Chương 3

C3

Chương 3:

Mùa thu năm ấy, An Tố nhận được một đơn hàng lớn chưa từng có. Đó là bức bình phong đại thọ "Bách điểu triều phụng" cao tám thước, rộng mười hai thước, do đích thân đại quản gia của phủ quyến vị Tri huyện Thanh Vân mang đến đặt thêu. Huyện Thanh Vân nằm cách Kinh thành hơn năm mươi dặm, là một vùng đất trù phú, nơi tập trung nhiều gia tộc quyền quý và quan viên về hưu. Đơn hàng này yêu cầu cực kỳ khắt khe: toàn bộ chim phượng hoàng và bách điểu phải được thêu bằng chỉ vàng kim tuyến thượng hạng, mắt chim phải đính hạt cườm nhỏ mã não, đường nét phải sống động như thật để kịp chúc thọ Lão thái thái của phủ vào tháng sau.

Số tiền đặt cọc và tiền công tổng cộng lên đến một trăm lượng bạc, một con số có thể mua đứt một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Kinh thành. Nhưng điều kiện đi kèm là người thêu chính phải tự mình mang thành phẩm đến phủ quyến ở Thanh Vân để cùng các thợ mộc nghiệm thu, lắp ráp vào khung gỗ quý và bàn giao tận tay cho đại quản gia.

An Tố đã thức ròng rã suốt nửa tháng trời, gần như không ngủ, đôi mắt nàng sưng húp và mờ đi vì phải nhìn những sợi tơ tằm mảnh như tơ nhện dưới ánh đèn. Nàng dốc hết tài năng, tâm huyết và cả sự kiên trì của mình vào bức bình phong ấy. Khi đường kim cuối cùng được hoàn thành, nhìn con chim phượng hoàng lộng lẫy như muốn vỗ cánh bay ra khỏi tấm lụa đại hồng, An Tố nở một nụ cười mãn nguyện. Nàng biết, đơn hàng này thành công không chỉ mang lại số tiền lớn, mà còn khẳng định vị thế độc tôn của tiệm thêu nàng.

Ngày khởi hành sang huyện Thanh Vân bàn giao hàng, trời thu trong vắt, làn gió nhẹ nhàng thổi mang theo hương hoa mộc tê thoang thoảng khắp các ngõ hẻm.

Hôm ấy Đường Hoài Ngọc ăn mặc rất chỉnh tề, đích thân hắn giúp ma ma khênh hòm chứa bức bình phong cẩn thận đặt lên chiếc xe ngựa thuê riêng. Hắn đứng bên cạnh cỗ xe, ân cần chỉnh lại chiếc trâm cài tóc bằng bạc đơn giản trên đầu An Tố, ánh mắt tràn đầy sự dịu dàng và quan tâm.

"An Tố, tuy đường xá sang Thanh Vân không quá xa nhưng dạo này thời tiết thất thường, nàng nhớ khoác thêm áo ấm. Giao hàng xong, nếu trời đã muộn thì nàng cứ nghỉ lại một đêm ở quán trọ tốt nhất trong huyện, đừng đi đêm. Ta ở nhà sẽ lo liệu chu toàn mọi việc và chăm sóc tốt cho mẹ. Nàng cứ yên tâm."

An Tố ngước mắt nhìn Đường Hoài Ngọc, ánh nắng thu vàng nhạt chiếu lên ngũ quan tuấn tú của hắn, khiến hắn trông giống như một vị thần sưởi ấm cuộc đời nàng. Sự chu đáo và những lời dặn dò đầy tình nghĩa của hắn khiến nỗi mệt mỏi sau những đêm thức trắng của nàng hoàn toàn tan biến. Nàng khẽ gật đầu, đặt bàn tay mình vào lòng bàn tay hắn, khẽ nói:

"Hoài Ngọc, ta biết rồi. Chàng ở nhà nhớ ăn uống đầy đủ, đừng đọc sách quá khuya. Ta đi hai ngày rồi sẽ về."

Nàng bước lên xe ngựa, rèm cửa buông xuống che khuất tầm mắt. Chiếc xe ngựa lọc cọc chuyển bánh, hướng về phía cổng thành ngoại ô mà đi. Thẩm An Tố ngồi trong khoang xe chật hẹp, mang theo bức bình phong lộng lẫy thêu bằng mồ hôi nước mắt của mình, mang theo cả niềm tự hào về một gia đình hạnh phúc.

Nàng hoàn toàn không biết rằng, bánh xe ngựa lăn đi cũng là lúc bẫy thời gian mà Đường Hoài Ngọc âm thầm sắp đặt suốt một năm qua bắt đầu sập xuống, và chuyến đi này sẽ là dấu chấm hết tàn nhẫn cho toàn bộ thế giới dối trá nhưng hoàn mỹ mà nàng đã dùng cả mạng sống để đắp xây.

Chương 4:

Huyện Thanh Vân đón An Tố bằng một bầu không khí hoàn toàn khác biệt với vẻ thâm trầm, ngột ngạt của Kinh kỳ sau năm dài thiên tai. Nơi đây là chốn tụ hội của những điền trang rộng lớn, những phủ đệ sơn son thếp vàng của các quan viên về hưu và những thương nhân giàu sang phú quý. Xe ngựa vừa lăn bánh qua cổng bằng đá cẩm thạch của huyện, An Tố đã ngửi thấy mùi phấn son xa xỉ thoang thoảng từ những kiệu hoa của các phụ nhân giàu có cùng âm thanh tấp nập từ những phiên chợ sầm uất.

Phủ quyến của vị Tri huyện Thanh Vân nằm ở khu đất đắc địa nhất, lưng tưaj vào núi xanh, mặt hướng ra dòng sông nhỏ có làn nước trong vắt. Khi An Tố cùng ma ma khiêng chiếc hòm gỗ lớn bước qua ba lớp cửa vòm của phủ, nàng không khỏi choáng ngợp trước sự xa hoa của nơi này. Những cây cầu đá nhỏ bắc qua hồ cá ngũ sắc, những hành lang dài làm bằng gỗ trắc đỏ và cả những nhóm người hầu kẻ hạ đi lại khúm núm, nhẹ nhàng không một tiếng động.

Đại quản gia của phủ là một ông lão ngoài ngũ tuần khoác áo lụa màu xám tro, ánh mắt tinh anh nhưng đầy vẻ khách sáo. Khi chiếc hòm gỗ được mở ra, bốn người hầu cẩn thận nâng bức bình phong "Bách điểu triều phụng" lên dưới ánh sáng mặt trời.

Một tiếng trầm trồ khẽ vang lên từ phía sau bức rèm châu. Lão thái thái của phủ sắp bước sang tuổi thượng thọ được hai nha hoàn dìu đỡ chậm rãi bước ra. Bà ghé sát mắt về phía trước nhìn vào tấm lụa đại hồng. Dưới bàn tay tài hoa của An Tố, con chim phượng hoàng ở vị trí trung tâm sống động đến mức từng sợi lông đuôi bằng chỉ kim tuyến dường như đang lay động theo làn gió thu, bách điểu xung quanh mỗi con một vẻ, con thì líu lo, con thì nghiêng đầu, đôi mắt bằng hạt mã não nhỏ lấp lánh thứ ánh sáng huyền ảo, quyền quý.

Lão thái thái vuốt ve đường viền thêu, liên tục gật đầu, trên gương mặt già nua hiện rõ vẻ mãn nguyện.

"Tốt, tốt lắm! Từ trước tới giờ đã chiêm ngưỡng không biết bao nhiêu gấm vóc, nhưng chưa từng thấy đường kim nào có thần như thế này. Người thêu bức bình phong này quả thực có một đôi bàn tay vô cùng khéo léo.”

Đại quản gia mỉm cười, lập tức phất tay cho người hầu mang ra một khay bạc. Bên trên chiếc khay lụa vàng là mười thỏi bạc lớn, mỗi thỏi mười lượng, trắng phau, nặng trĩu. Đó là số tiền công còn lại, cộng thêm mười lượng bạc thưởng thêm của Lão thái thái vì sự chu toàn vượt ngoài mong đợi.

Cầm bọc bạc nặng trĩu trong tay, An Tố cúi đầu tạ ơn, trong lòng nàng trào dâng một niềm hạnh phúc và tự hào khôn tả. Nàng đã làm được rồi. Nàng đã dùng đôi bàn tay thô ráp này để chinh phục những tầng lớp quý tộc kiêu kỳ nhất. Nàng chợt nghĩ đến Đường Hoài Ngọc, nghĩ đến gương mặt nho nhã của hắn. Với khoản tiền khổng lồ này, hắn sẽ có dư giả lộ phí để lên Kinh dự kỳ thi, mẹ chồng sẽ có những vị thuốc bổ tốt nhất. Nàng muốn lập tức trở về Kinh thành để sà vào lòng hắn, chia sẻ niềm vui lớn lao này.

Nàng từ chối lời mời ở lại dùng cơm trưa của đại quản gia, xin phép ra về ngay để kịp trở về nhà sớm nhất có thể. Nàng nhớ nhà, nhớ hơi ấm của căn phòng sách nhỏ quen thuộc.

Thế nhưng thời tiết mùa thu ở vùng sông nước luôn khó chiều như tâm khí của một tiểu thư khuê các.

Khi An Tố vừa ra đến xe ngựa ở rìa thị trấn Thanh Vân, bầu trời vốn đang trong vắt bỗng chốc kéo mây đen kịt từ phía rặng núi xa. Gió thu nổi lên ào ào, cuốn theo những chiếc lá khô bay xào xạc trên mặt đất. Chỉ trong vòng chưa đầy một nén nhang, một trận mưa giông đổ xuống dữ dội. Những hạt mưa lớn bằng hạt đậu đập thẳng vào mái che xe ngựa vang lên từng tiếng lộp độp chói tai.

Phu xe ngựa nhìn màn mưa trắng xóa trước mặt, lắc đầu ái ngại nói với An Tố:

"An nương tử, mưa lớn thế này, đường rừng từ Thanh Vân về Kinh thành lại trơn trượt, bùn lầy ngập bánh xe rất dễ lật. Chuyến xe ngựa cuối ngày chắc chắn phải hoãn lại để đợi mưa ngớt bớt. Nương tử tìm chỗ nào trú tạm đi, khi nào đi được ta sẽ gọi."

An Tố ôm chặt bọc hành lý dựng một trăm lượng bạc trước ngực, gật đầu đồng ý. Nàng nhìn bốn phía xung quanh rồi bước vội qua con đường ướt sũng, tiến về phía một con hẻm nhỏ khuất sau rặng liễu đối diện để tìm mái hiên trú mưa.

Đó là một con hẻm cổ kính sâu hun hút, tách biệt hẳn với sự sầm uất của khu chợ trung tâm. An Tố bước chân nhẹ nhàng, dừng lại dưới mái hiên của một cửa hàng cũ kỹ nằm ở góc khuất nhất. Tấm biển hiệu bằng gỗ đen treo phía trên đã phai màu, lớp sơn lụa bong tróc lộ ra những vệt gỗ mục nát, bên trên khắc ba chữ lớn bằng mực vàng đã xỉn màu: Vĩnh An Đường.

Nàng ghé lưng vào cánh cửa gỗ khép hờ của tiệm, đưa mắt nhìn ra màn mưa trắng xóa ngoài kia, trong lòng thầm cầu mong mưa nhanh tạnh để kịp về nhà. An Tố xoay người lại, đưa mắt nhìn vào chiếc tủ kính trưng bày những món đồ cầm cố nằm ngay sát cửa ra vào của tiệm để giết thời gian.

Ánh đèn từ gian trong của tiệm hắt ra, rọi lên những món đồ xếp chồng chéo lên nhau. Ánh mắt của An Tố lướt qua một lượt một cách vô định, rồi bỗng nhiên đồng tử của nàng co rụt lại.

Cơ thể nàng giống như bị một luồng sét đánh trúng giữa đỉnh đầu, cứng đờ tại chỗ trong tích tắc. Bên trên một tấm lụa màu đỏ đại hồng đã bạc màu có một cây trâm ngọc bích đang lặng lẽ nằm đó.

Nước ngọc màu xanh, kiểu dáng trơn nhẵn không hề chạm khắc bất kỳ hoa văn hoa mỹ nào. Nhưng điều khiến An Tố chết lặng không phải là chất ngọc, mà là ở phần đuôi của cây trâm hiện lên một vết rạn tự nhiên hình chiếc lá. Và ngay sát vết rạn ấy có một vết xước sâu, nhỏ như sợi tóc. Vết xước ấy là do trong lúc nghịch ngợm chính nàng làm rơi xuống thềm đá đóng giày của cha mà thành.

Cây trâm của mẹ trao lại cho nàng. Cây trâm đã biến mất không một dấu vết vào cái đêm bão tuyết năm ngoái tại Kinh thành. Tại sao nó lại nằm ở đây? Tại sao một kỷ vật bị mất trộm ở một con ngõ nhỏ phía Bắc Kinh thành lại có thể xuất hiện trong một tiệm cầm đồ cũ kỹ ở huyện Thanh Vân cách xa hơn năm mươi dặm thế này?

Bên trong tiệm cầm đồ Vĩnh An Đường tối tăm và ngột ngạt. Chưởng quầy là một ông lão tóc bạc phơ, lưng còng rạp, đang cúi đầu tỉ mỉ gảy từng hạt bàn tính bằng gỗ dưới ánh đèn dầu mờ mịt. Nghe tiếng bước chân vội vã của An Tố, ông lão khẽ ngẩng đầu lên qua cặp kính gọng tròn, giọng nói khàn khàn, chậm rãi:

"Vị nương tử này, muốn cầm đồ hay mua đồ?"

An Tố không trả lời câu hỏi của ông ta. Nàng đi thẳng đến trước bàn tính, bàn tay run rẩy kịch liệt chỉ vào tủ kính.

"Chưởng quầy... cây trâm ngọc bích nằm ở góc tủ kia… là có người mang đến cầm đồ sao?”

Ông lão nhìn sắc mặt tái nhợt, đôi mắt ngập tràn sự kinh hoàng của An Tố, khẽ nhíu mày. Ông ta đứng dậy, bước ra ngoài lấy chìa khóa mở tủ, cẩn thận nhấc cây trâm ngọc bích ra, đặt lên một miếng vải nhung đen trên bàn tính.

"Món đồ này đã ở tiệm chúng ta gần một năm rồi. Kiểu dáng đơn giản nhưng rất cổ, nước ngọt lại tốt. Vì cũng sắp quá hạn cầm cố rồi mà không thấy người ta đến chuộc nên ta thử trưng bày ở đây xem sao. Người có mắt nhìn sẽ lựa chọn cũng không biết chừng.”

"Ông có thể cho ta biết... ai là người đã mang nó đến đây cầm cố không?" Giọng An Tố lúc này nhỏ như tiếng muỗi kêu, lồng ngực nàng phập phồng dữ dội.

"Chuyện này..." Ông lão lắc đầu, thu bàn tay lại vào tay áo: "Quy tắc của tiệm cầm đồ chúng ta là giữ bí mật danh tính khách hàng. Không thể tiết lộ, mong nương tử lượng thứ."

Rầm!

Một tiếng động mạnh vang lên. An Tố dứt khoát giật bọc hành lý trên vai xuống.

“Ông bán cây trâm này giá bao nhiêu? Ta muốn mua lại nó!”

Chưởng quầy nhíu mày, khựng lại một lúc rồi mới lên tiếng:

“Lúc trước cầm cố với giá hai mươi lượng.”

"Ta mua lại cây trâm này với giá năm mươi lượng. Ta muốn xem sổ sách ghi chép về việc cầm cố cây trâm này vào năm ngoái. Chưởng quầy, xin ông giúp đỡ. Món đồ này là kỷ vật của mẹ ta để lại, bị người ta trộm mất."

Ông lão trợn mắt kinh ngạc, thở dài một tiếng, sau đó quay người bước vào gian phòng khuất sau bức rèm vải xám. Một lát sau, ông bê ra một quyển sổ dày đã ố vàng, bìa bọc da đã sờn góc. Ông lão lật từng trang giấy nhám, ngón tay gầy guộc dừng lại ở một trang giấy gần cuối, chỉ vào dòng chữ mực đen:

"Đây rồi. Ngày mười bốn tháng mười một năm ngoái, một thư sinh trẻ tuổi mang cây trâm này đến đây cầm cố lấy hai mươi lượng bạc. Tên người ký nhận là..."

Ông lão chưởng quầy chưa kịp đọc hết câu, An Tố đã nhìn thấy. Dòng chữ mực đen hiện lên rõ mồn một, đâm thẳng vào con ngươi nàng. Nét chữ phượng bay phượng múa vô cùng sắc sảo. Đó là nét chữ của phu quân mỗi đêm vẫn cùng nàng chung chăn gối, nét chữ của người mà nàng đã mài mực cho hắn viết suốt ba năm qua, cũng là nét chữ trên bức thư tình đầu tiên hắn gửi cho nàng.

Đường Hoài Ngọc.

Đùng đoàng!

Một tiếng sấm sét nổ tung ngay trên mái hiên của Vĩnh An Đường, chấn động đến mức làm rung chuyển cả những hàng gạch cũ. Mưa bên ngoài cửa sổ trút xuống dữ dội hơn, nước mưa đổ xối xả như muốn nhấn chìm toàn bộ huyện Thanh Vân vào biển nước. Nhưng An Tố không còn nghe thấy gì nữa. Tai nàng hoàn toàn mất đi thính giác, thế giới xung quanh nàng bỗng chốc trở nên im lặng một cách đáng sợ.

Nửa canh giờ trước, nàng còn là người vợ hạnh phúc nhất thế gian, cầm trong tay một trăm lượng bạc tiền công thêu thùa, trong lòng tràn ngập ước vọng về một tương lai tươi sáng cho phu quân. Vậy mà trong chớp mắt, trang giấy ố vàng này đã tàn nhẫn xé toạc tấm màn nhung dối trá, đẩy nàng xuống tầng sâu nhất của địa ngục băng giá.

Kẻ trộm... lại chính là phu quân đầu ấp tay gối.

Lời thề thốt đau đớn "có kẻ gian lẻn vào", những giọt nước mắt hối hận và cái ôm siết chặt của hắn trong đêm bão tuyết ngày mười bốn tháng mười một năm ngoái... Hóa ra tất cả chỉ là một màn kịch đê tiện, bỉ ổi do một tay hắn đạo diễn. Hắn đã lén mở rương gỗ của nàng, lấy đi báu vật duy nhất của mẹ nàng, mang đi cầm cố lấy hai mươi lượng.

Một câu hỏi lập tức dâng lên, bóp nghẹt lấy lý trí của An Tố: Hai mươi lượng ấy, hắn dùng để làm gì?

Lúc đó, tiền ăn, tiền thuốc của mẹ chồng, tiền than sưởi ấm trong nhà, một tay nàng đã bán mạng thêu thùa suốt đêm để lo liệu chu toàn. Nhà họ Đường không hề thiếu một đồng chi tiêu sinh hoạt. Vậy hắn lấy số tiền hai mươi lượng ấy sử dụng vào việc gì?

Nghĩ đến những chuyến đi xa kỳ lạ của hắn, mùi thuốc bắc đắng ngắt trộn lẫn mùi khói bếp vương trên áo hắn, và cả nụ cười ngẩn ngơ của hắn khi nhìn những món đồ chơi trẻ con lén lút giấu trong tay áo... Những mảnh ghép rời rạc, bất thường suốt một năm qua lập tức hiện về trong tâm trí An Tố, kết nối lại thành một sự thật tàn nhẫn đến mức khiến choáng váng không tài nào đứng vững.

Nàng không khóc. Nước mắt của nàng dường như đã bị ngọn lửa hận thù và sự phản bội thiêu rụi sạch sẽ ngay trong khoảnh khắc ấy. Nàng chậm rãi đưa tay cầm lấy cây trâm ngọc bích từ trên miếng vải nhung đen, siết chặt nó trong lòng bàn tay. Đầu nhọn của cây trâm đâm sâu vào da thịt thô ráp của nàng, máu tươi rỉ ra, nhuộm đỏ một mảng thân trâm ngọc bích, nhưng nàng không hề cảm thấy đau đớn. Nỗi đau thể xác này có xót xa bằng sự sụp đổ của một đức tin mà nàng đã dùng cả mạng sống để phụng thờ?

Nàng vơ lấy bọc hành lý chứa số bạc còn lại, quay người bước thẳng ra khỏi cửa tiệm Vĩnh An Đường. An Tố không đợi mưa tạnh, nàng lao thẳng thân hình gầy guộc vào màn mưa thu buốt giá, hướng về phía bến xe ngựa trở về Kinh thành. Nàng phải về ngay lập tức.