Chương 3
C3
Sau khi cánh cửa gỗ của phòng tịnh thân khép lại, ta bất tỉnh suốt ba ngày ba đêm. Khi tỉnh lại, ta thấy mình đang nằm trên một lớp chiếu rơm ẩm ướt, bên dưới thấm máu.
Nỗi đau đớn ấy không có lời nào diễn tả được. Nó không chỉ là nỗi đau thể xác khi một phần xương thịt bị tước đoạt, thiêu đốt từ trong xương tủy, khiến mỗi lần hô hấp là một lần toàn thân co rút. Người ta nhét vào chỗ vết thương của ta một đoạn ống nhỏ để tiện việc bài tiết. Ba ngày ấy, ta không được uống một giọt nước, chỉ có thể nằm im như khúc gỗ, lắng nghe tiếng rên rỉ khóc than của những đứa trẻ đồng cảnh ngộ xung quanh. Có người bị nhiễm trùng đã lặng lẽ trút hơi thở ngay giữa đêm, thi thể bị người ta kéo lê ra bãi tha ma ngoại thành như một con chó chết.
Ta đã sống sót. Bằng một ý chí cầu sinh mãnh liệt và có phần ghê tởm của một linh hồn đã từng chết một lần. Ta bấu chặt ngón tay xuống nền đất, tự nhủ mình phải sống để nhìn thấy ngày trở về, phải sống để số bạc ít ỏi kia không trở thành vô ích.
Đến khi vết thương khép miệng, ta được ban cho một cái tên mới, gọi là Nhị Thuận. Ta trở thành một tiểu thái giám tạp dịch cấp thấp nhất, bị phân về Thận Hình Ty để làm những công việc bẩn thỉu và nặng nhọc nhất.
Ở thế kỷ hai mươi mốt, ta từng đọc tiểu thuyết xuyên không. Trong những câu chuyện ấy, dẫu các nhân vật chính có rơi vào nghịch cảnh thì cũng sẽ nhanh chóng dùng kiến thức hiện đại để thay đổi cuộc sống, rồi một bước lên mây, còn có thể quyền khuynh thiên hạ.
Nhưng hiện thực tàn khốc của Tử Cấm Thành đã tạt thẳng vào mặt ta một gáo nước lạnh buốt.
Không có bàn tay vàng nào cả. Không có quý nhân nào rảnh rỗi để mắt đến một kẻ thấp kém. Càng không có cơ hội để ta thể hiện cái gọi là tri thức tương lai. Ở nơi này, một tiểu thái giám tạp dịch như ta ngay cả tư cách ngẩng đầu lên nhìn dung nhan của các chủ tử cũng không có. Mỗi khi có kiệu hoa của các phi tần hay bóng dáng của các đại thần đi qua con đường đá, việc đầu tiên ta phải làm là quỳ sụp xuống đất, không được phép phát ra bất kỳ tiếng động nào. Nếu ngươi dám làm kinh động đến quý nhân, cái chờ đợi ngươi phía trước không phải là sự chú ý, mà là một cái tát nảy lửa của người hầu cận, hoặc nghiêm trọng hơn chính là cái chết.
Công việc hằng ngày của ta bắt đầu từ lúc canh ba. Ta phải gánh nước lớn từ giếng chung ở ngoại đình, đi qua những con đường dài hun hút, trơn trượt để đổ đầy các vại nước trong các cung. Đôi bàn tay vốn dĩ đã thô ráp từ nhỏ, nay lại càng thêm thảm hại. Da tay nứt nẻ thành những rãnh sâu, gặp nước lạnh thì đau buốt thấu xương, máu rỉ ra hòa lẫn vào cùng nước giếng.
Xong xuôi, ta lại cùng mấy tiểu thái giám khác khiêng những chiếc xô gỗ đựng chất thải của các cung mang đi cọ rửa. Mùi khai, mùi hôi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi, bám chặt vào quần áo, vào tóc tai, khiến những ngày đầu tiên ta không có cách nào nuốt trôi cơm.
Mà cơm của chúng ta cũng chẳng có gì gọi là tử tế. Gạo lẫn cả sạn cát và trấu, kèm theo một đĩa rau luộc nhạt nhẽo. Thậm chí, việc được ăn no cũng là một điều xa xỉ. Chỉ cần mắc một lỗi nhỏ như quét sân còn sót lại lá, hay bưng nước rửa chân cho thái giám tiền bối chậm một nhịp, hình phạt quen thuộc nhất luôn là nhịn cơm tối và quỳ ở giữa sân ba canh giờ.
Có những đêm đông lạnh giá, bụng đói cồn cào đến mức co thắt từng cơn, ta nằm trên phản gỗ chung, nghe tiếng gió rít qua khe cửa mà nước mắt lặng lẽ chảy dài. Ta tự hỏi, ta tồn tại ở thế giới này để làm gì? Để chịu đựng nhục nhã, để làm một kẻ vô hình, một cái bóng không ai nhớ tên họ sao?
Sự kiêu hãnh cũng bị những trận đòn roi, cái đói và sự khinh miệt mài mòn đến mức nhẵn mịn. Ta học được cách cười nịnh nọt khi bị mắng, học được cách khom lưng uốn gối, học được cách biến mình thành một sự tồn tại vô hình dưới chân những kẻ quyền quý.
Động lực duy nhất, sợi dây mỏng manh duy nhất kéo giữ linh hồn ta lại với thế giới này, chính là những bức thư nhà gửi đến mỗi tháng một lần.
Hoàng cung có quy định, hạ nhân không được phép tự ý liên lạc với bên ngoài. Nhưng phủ Nội Vụ luôn có những đường dây ngầm của đám thái giám già cai quản việc thu mua nhu yếu phẩm. Chỉ cần ngươi biết điều, gom góp từng đồng tiền ít ỏi từ bổng lộc mạt hạng của mình để hiếu kính cho bọn họ, họ sẽ giúp ngươi mang một bức thư nhà vào cung khi có dịp giao dịch ngoài thành.
Năm thứ ba ta ở trong cung, lão Từ mang đến cho ta bức thư nhà thứ hai. Lần này, người viết thư đã thay đổi. Nét chữ méo mó, nguệch ngoạc, nét đậm nét nhạt chồng chéo lên nhau, rõ ràng là do một người mới tập cầm bút lông, dùng hết sức để tô vẽ từng chữ một.
“Ca ca, muội là Tiểu Xán đây.”
Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt khiến lồng ngực ta run lên bần bật.
“Tiên sinh dạy học ở đầu làng là người tốt. Ông ấy thấy nhà chúng ta có bạc mua gạo, biết cha mẹ đã bớt bệnh, lại thấy ngày nào muội cũng đứng ngoài cửa lớp ngó vào, nên đã cho muội vào học ké. Tiên sinh nói muội thông minh lắm đấy, học một biết mười. Muội đã biết viết chữ rồi.”
“Sang năm nay, cha cũng đã bớt ho rồi. Mùa đông này mẹ đã may cho cha một chiếc áo bông mới từ số tiền ca ca gửi về.”
“Đàn gà nhà ta đã đẻ được mười hai quả trứng, mẹ đều giấu kỹ, muốn để dành cho huynh ăn. Cuối cùng để lâu rồi lại hỏng mất.”
“Ở nhà mọi chuyện đều tốt, ca ca ở đấy phải ăn no mặc ấm, đừng lo cho mọi người.”
“À, cha mẹ bảo huynh giữ lại tiền phòng thân, rồi chăm lo bản thân thật tốt. Sức khỏe cha mẹ ổn rồi, đất đai cũng không còn khô cằn như trước, có thể trồng hoa màu. Cho nên, huynh phải lo cho chính mình.”
Bức thư dài hơn trước rất nhiều, chữ viết chỗ thì thiếu nét, chỗ thì thừa mực đen sì một cục. Thế nhưng, điều khiến trái tim ta thắt chặt lại chính là góc cuối cùng của tờ giấy.
Ở đó, Tiểu Xán đã dành hẳn một khoảng trống lớn để viết duy nhất một chữ. Chữ ấy được viết to nhất, nắn nót nhất, nét mực được tô đi tô lại nhiều lần cho đến khi đen bóng, nổi bật lên trên nền giấy nhám.
Ca.
Ta có thể tưởng tượng ra cảnh tượng dưới mái tranh nghèo ở Hoài Bắc, một cô bé mười tuổi, ngón tay thon gầy sưng đỏ vì lạnh, đang ngồi bên bậu cửa sổ, cẩn thận chấm mực, mím chặt môi cố gắng điều khiển cây bút lông. Đối với con bé, chữ “Ca” này không chỉ là một danh xưng, mà là niềm tự hào, là người anh trai đã bỏ quên cả chính mình, chỉ để mang lại cho gia đình cuộc sống no đủ.
Ta vuốt ve nét chữ “Ca” tròn trịa ấy, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống làm nhòe đi một góc mực. Trong bóng tối của Thận Hình Ty, ta tìm thấy lý do để mình tiếp tục chịu đựng. Ta không phải là Tiểu Thạch, nhưng ta đang sống bằng mạng sống của Tiểu Thạch và tình yêu thương thuần khiết này. Ta nguyện dùng cả phần đời này để bảo vệ.
Từ đó trở đi, cuộc sống của ta có một mục tiêu rõ rệt. Ta bắt đầu tằn tiện đến mức cực đoan. Một tháng bổng lộc của tiểu thái giám tạp dịch là hai lượng, ta không tiêu một xu nào cho bản thân. Áo bông rách, ta nhặt những mảnh vải vụn người ta bỏ đi ở Hoán Y Cục về tự khâu vá lại. Mũi giày bị rách, ta dùng dây đay tự buộc chặt lại để đi tiếp qua mùa đông. Ta giấu những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi và máu ấy dưới một tấm ván giường ở góc phòng, mỗi đêm trước khi đi ngủ đều dùng tay sờ lên đó, nhẩm tính toán xem đã tích góp được bao nhiêu để gửi về quê nhà.
Ta cứ như một con kiến nhỏ, âm thầm và lặng lẽ bò rạp dưới đáy Hoàng cung suốt mấy năm trời. Không có vinh hoa phú quý, không có sự đổi đời, chỉ có tuổi xuân trôi đi trong mùi khói bếp, mùi chất thải và những lằn roi da. Ta đã hoàn toàn thích nghi với thân phận của một hoạn quan, từ dáng đi khom lưng đến ngữ khí hèn mọn đã ngấm vào từng cử chỉ hành động.
Mùa thu năm Cảnh Hoà thứ mười lăm.
Hoàng hậu nương nương hạ sinh đích trưởng tử, triều đình đại hỷ, Hoàng thượng đại xá thiên hạ. Phủ Nội Vụ theo lệ cũ ban ân điển cho một số tiểu thái giám tạp dịch ngoại tỉnh có biểu hiện cẩn trọng, không phạm lỗi lầm hoặc lỗi lầm nhỏ trong ba năm được nghỉ phép ba ngày về quê thăm gia đình.
Khi viên thái giám quản sự cầm danh sách đọc đến hai chữ “Nhị Thuận”, ta đang quỳ bên giếng nước cọ rửa thùng gỗ. Đôi bàn tay ta khựng lại giữa chừng, dòng nước lạnh buốt từ gáo tre dội xuống chân cũng không làm ta thức tỉnh.
Ba năm. Ta sắp được trở về. Ta sắp được nhìn thấy ngôi nhà tranh ấy, nhìn thấy người cha khắc khổ, người mẹ già nua và em gái đã biết viết chữ “Ca” thật đẹp rồi.
Ta đứng dậy, khom lưng nhận lấy tấm thẻ bài cho phép ta bước ra khỏi cánh cửa Tử Cấm Thành rộng lớn.
Gió thu thổi qua sân điện, mang theo hương hoa mộc phả vào cánh mũi. Trong lòng ta dâng lên cảm xúc hỗn độn, vừa mong mỏi đến cuồng nhiệt, lại vừa có một nỗi bất an mơ hồ không thể gọi tên. Ta của ba năm sau, với thân hình tàn khuyết và tâm hồn đầy những vết sẹo này, liệu có còn là người con, người anh trai mà họ ngày đêm ngóng đợi?
Chương 4:
Cánh cửa Đông Hoa Môn nặng nề rít lên một tiếng dài rồi chậm rãi mở ra một khe hẹp. Ta bước qua ngưỡng cửa cao vút, lén nhìn lại bóng đại điện vàng son rồi quay đầu bước đi, cảm giác như vừa bước qua ranh giới giữa âm phủ và dương gian.
Ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi. Để có được tấm thẻ bài cho phép rời cung này, ba năm qua ta đã phải làm việc như một con trâu không biết mệt. Ta khâu chặt những mảnh bạc vụn tích góp được vào lớp lót trong cùng của chiếc áo, bắt xe bò đi hết nửa ngày trời, băng qua lớp tuyết mỏng để trở về thôn Hà Hoa vùng Hoài Bắc. Khi cải trang thành một thiếu niên đi làm thuê xa nhà trở về, ta buộc phải chôn giấu toàn bộ thân phận hoạn quan của mình vào bóng tối.
Trở về đến đầu thôn, trái tim ta đập loạn nhịp như trống trận.
Thôn Hà Hoa đã thay đổi chút ít. Hơn hai năm liền không gặp đại hạn, lại thêm số tiền ta đều đặn gửi về, ngôi nhà tranh xơ xác ngày xưa đã được sửa sang lại. Mái tranh được lợp một lớp rơm mới dày dặn, vững chãi, vách đất nứt nẻ đã được trát lại vuông vắn. Ngoài sân vang lên tiếng cục ta cục tác của đàn gà, và sâu hơn một chút lại nghe thấy tiếng lợn ủi trong máng. Tất cả đều là những âm thanh bình dị mà ba năm qua ta chưa từng được nghe.
Ta đứng chôn chân trước cửa, bỗng nhiên cảm thấy sợ hãi. Ta cúi đầu nhìn lại bản thân, thân thể gầy gò, nước da có màu trắng bợt, đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo, cằm nhẵn nhụi không một sợi râu dù đã mười tám tuổi. Tệ hơn cả là sống lưng không chịu đứng thẳng. Ba năm quỳ gối phục dịch đã biến dáng đi thẳng tắp thành một cái bóng khom mình trong vô thức, hai tay luôn thu gọn trong ống tay áo theo tư thế cung kính của kẻ hạ nhân.
“Ai... Là ai đứng ngoài cửa thế?”
Một giọng nói già nua, run rẩy vang lên. Người mẹ từ trong gian bếp bước ra, tay ôm rổ tre đựng rau dại. Bà gầy hơn trước, tóc đã bạc nửa đầu, nhưng đôi mắt không còn vẻ tuyệt vọng như ba năm trước. Bà nheo mắt nhìn bóng người gầy gò ngoài cổng, rổ tre trên tay đột ngột rơi xuống đất, những cọng rau xanh vương vãi trên nền tuyết.
“Tiểu Thạch... Tiểu Thạch phải không?”
Bà lao đến, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy đẩy cánh cửa nhà chính, nhào về phía ta. Khác với ba năm trước khi ta tỉnh dậy trên giường bệnh, lần này ta không còn khựng lại vì bản năng bài xích. Ta dang tay ôm chặt lấy bả vai gầy yếu của bà. Mùi khói bếp nồng nặc hoà lẫn cùng mùi mồ hôi của người lao động xộc thẳng vào mũi ta. Thứ mùi mà ở thế kỷ hai mươi mốt ta từng vô cùng ghét bỏ, giờ đây lại khiến sống mũi ta cay xè, nước mắt chực trào ra.
“Mẹ... con đã về.” Ta cất giọng, cố gắng hạ thấp tông giọng xuống để giấu đi chất giọng thanh mảnh.
Tiếng khóc của mẹ làm kinh động đến người trong nhà. Cha ta bước ra, tay chống một cây gậy trúc. Và đằng sau ông, một thiếu nữ mười hai tuổi bước ra. Tiểu Xán đã lớn hơn, không còn là chú mèo gầy gò năm xưa. Con bé mặc một chiếc áo bông màu xanh xám tuy cũ nhưng sạch sẽ, mái tóc đen nhánh được tết gọn gàng sau lưng, đôi mắt to tròn lấp lánh nhìn ta đầy kinh ngạc, rồi biến thành niềm vui sướng hân hoan.
“Ca ca!” Con bé reo lên, định lao đến nhưng chợt khựng lại, có chút e thẹn của một thiếu nữ mới lớn.
Đêm hôm đó, dưới mái nhà tranh ấm áp, ngọn đèn dầu leo lét thắp sáng cả gian nhà. Mẹ nấu một nồi cơm gạo trắng thơm phức mà ba năm qua gia đình chưa từng dám ăn thỏa thích, kèm theo đó là một đĩa trứng gà xào hẹ vàng ruộm mà bà nói là đã tích cóp từ nửa tháng trước để đợi ta trở về.
Cha ngồi ở đầu bàn, khuôn mặt khắc khổ giãn ra đầy tự hào. Ông nâng chén rượu nhạt lên, mắt đỏ hoe:
“Tiểu Thạch, ba năm qua con vất vả rồi. Cả cái làng này, ai cũng bảo nhà ta có phúc mới sinh được một đứa con hiếu thảo như con. Số bạc con gửi về từ chỗ làm thuê trên Kinh thành không chỉ cứu mạng hai thân già này, mà còn giúp Tiểu Xán được đi học chữ. Con là nam nhi đầu đội trời chân đạp đất của nhà họ Lý chúng ta!”
“Con là nam nhi đầu đội trời chân đạp đất...”
Câu nói của cha như một tia sét đánh thẳng vào đại não ta, khiến toàn thân ta đông cứng.
Ta nhìn xuống đôi bàn tay đang đặt trên đùi, hai ngón tay cái vô thức cấu chặt vào nhau dưới lớp quần vải. Nam nhi ư? Bây giờ ta còn tư cách gì để nhận hai chữ ấy? Sự thật tàn khốc nằm dưới lớp y phục thô kệch kia là một vết sẹo nhục nhã, một cơ thể tàn khuyết không bao giờ có thể làm một người đàn ông thực sự. Sự tự hào của ông, niềm kính trọng của Tiểu Xán, tất cả đều được xây dựng trên lời nói dối tàn nhẫn mà bọn buôn người đã sắp đặt nên. Họ hoàn toàn tin rằng ta đang làm việc ở một phủ đệ lớn trên Kinh thành, ăn no mặc ấm, chứ đâu biết ta chỉ là một con chó quỳ rạp dưới chân người khác trong cung cấm.
Nỗi đau đớn dâng lên tận cổ họng đến mức đắng ngắt. Ta cố nuốt miếng cơm nghẹn ứ, gượng cười:
“Cha nói gì vậy... Con là con của cha mẹ, đi làm công cho người ta, chịu khổ chút ít có là gì.”
“Năm nay Tiểu Thạch đã mười tám rồi.” Mẹ vừa gắp cho ta miếng trứng lớn nhất, vừa cười vừa nói, ánh mắt tràn đầy sự suy tính của một người mẹ.
“Để mẹ đánh tiếng với nhà bên cạnh có được không? Con gái út của ông ấy năm nay mười sáu tuổi, là cô nương thuỳ mị nết na.”
“Tiền con gửi về, chúng ta đã cố gắng chắt bóp, cũng để dành được một khoản làm tiền tiết kiệm cho con rồi. Đợi đến khi hết hạn khế ước làm thuê với chủ nhà rồi trở về, con cưới người ta cũng được. Mẹ tính như vậy, con thấy có được không?”
Bà nhìn ta, ánh mắt vô cùng xót xa: “Khi nào thì hết hạn khế ước? Mẹ biết con kiếm được tiền, nhưng chắc chắn không dễ dàng gì. Con xem, gầy thành thế này rồi, sắc mặt cũng không tốt. Chừng nào hết hạn con trở về đi, ruộng vườn cũng làm được trở lại rồi. Tuy rằng không kiếm được nhiều tiền nhưng chung quy vẫn là làm cho chính mình. Đi làm thuê cho người ta, có uất ức nào mà không phải chịu chứ?”
Ầm ầm.
Đầu óc ta hoàn toàn trống rỗng. Mạch máu trong người như đảo ngược. Cưới vợ ư?
Sự hoảng loạn tột cùng ập đến đánh sập toàn bộ hàng phòng ngự lý trí mà ta đã dày công xây dựng suốt ba năm qua. Trong một khoảnh khắc mất kiểm soát, khi cha đứng dậy định đi lấy thêm bình rượu, bản năng phục dịch bấy lâu ở Thận Hình Ty đột ngột trỗi dậy, đè bẹp ý thức của một người làm con.
Ta bật đứng dậy, cơ thể tự động khom lưng, hai tay vòng trước ngực, đầu cúi thấp đến mức cằm chạm vào ngực, ngữ khí hèn mọn, khép nép cất lên theo thói quen:
“Cha... Xin cha cứ ngồi yên, để... để con trai hầu hạ.”
Chữ “Nô tài” suýt chút nữa đã bật ra khỏi miệng, may mắn được ta cắn răng nuốt ngược vào trong. Thế nhưng dáng đứng khom lưng cúi đầu, hai vai rụt lại, cùng bộ dạng kính cẩn một cách kỳ quái ấy đã phơi bày phần nào.
Gian nhà tranh đột ngột rơi vào im lặng đến đáng sợ.
Tiếng gió rít qua khe cửa nghe rất rõ ràng. Cha ta đứng sững lại giữa chừng, đôi mắt già nua nhìn chằm chằm vào sống lưng còng xuống của đứa con trai, chén rượu trên tay khẽ nghiêng, làm đổ vài giọt xuống nền đất. Mẹ ta ngừng hẳn việc gắp thức ăn, nhìn ta với ánh mắt ngơ ngác xen lẫn bàng hoàng khó có thể diễn tả.
Dáng vẻ ấy chính là sự sợ hãi đã ăn sâu vào xương tủy. Ta nhận ra mình đã phạm phải một sai lầm chết người. Mồ hôi lạnh chảy ròng ròng sau lưng, thấm đẫm vết thương cũ chưa lành. Ta vội vàng xoay người đỡ lấy chén rượu trên tay ông.
Tiếng khóc nghẹn ngào của mẹ đột ngột phá tan bầu không khí im lặng. Bà lao đến, ôm chầm lấy sống lưng đang còng xuống của ta, những giọt nước mắt nóng hổi thấm qua lớp áo thô nhám.
“Ở trên Kinh thành... cái nhà giàu ấy người ta đã hành hạ con đến mức nào? Nói cho ta biết đi!”
Cha ta buông thõng hai tay, cây gậy trúc rơi cạch xuống đất. Đôi mắt ông đỏ ngầu, hàm răng nghiến chặt đến mức phát ra tiếng kêu, lồng ngực phập phồng vì phẫn nộ và bất lực.
Họ không nghi ngờ điều gì khác. Họ chỉ nghĩ rằng, phủ đệ giàu sang trên Kinh thành kia là một nơi tàn nhẫn, và người con trai hiếu thảo của họ đã phải chịu ấm ức, bị ép buộc phải từ bỏ lòng tự trọng của một nam nhi để đổi lấy những đồng tiền gửi về cứu mạng gia đình. Họ đau lòng, họ phẫn nộ vì nghĩ con mình phải làm trâu làm ngựa, chứ hoàn toàn không thể ngờ đến sự thật kinh nghiêng trời lệch đất phía sau.
Ta lén thở phào một hơi, tim vẫn đập thình thịch trong lồng ngực. Ta vội vàng đứng thẳng người lên, cố gắng nặn ra một nụ cười tự nhiên nhất có thể.
“Cha, mẹ, hai người nghĩ đi đâu thế. Quy củ của những gia đình danh giá trên Kinh thành nghiêm ngặt lắm, từ người hầu đến quản gia đều phải học phép tắc đi đứng. Con làm việc ở đó, tiếp xúc với toàn người quyền quý, nếu không học lễ nghi thì đã bị đuổi từ lâu rồi. Đây là thói quen thôi, con không bị ai đánh đập cả, mọi người đừng lo.”
Lời giải thích của ta dẫu hợp lý, nhưng không khí bữa cơm không thể nào vui vẻ trở lại được nữa. Cha mẹ nhìn ta với ánh mắt tràn đầy xót xa. Họ liên tục gắp thức ăn vào bát ta, như muốn bù đắp lại tất cả những tủi nhục mà họ nghĩ ta đã phải gánh chịu suốt ba năm qua.
Tiểu Xán ngồi ở góc bàn vẫn im lặng. Con bé nhìn đĩa trứng xào rồi lại nhìn ta. Đôi mắt to tròn của cô bé mười hai tuổi ngập tràn một nỗi buồn mênh mang. Con bé vuốt ve chiếc áo bông ấm áp mình đang mặc trên người, có lẽ trong lòng đang tự nhủ. Sự ấm áp của gia đình này, học vấn của bản thân con bé, mạng sống của cha mẹ, tất cả đều được đánh đổi bằng sự tự do và những năm tháng thanh xuân bị chà đạp của ca ca nơi đất khách. Con bé càng thương ca ca, lòng ta lại càng như có ngàn mũi dao đâm đến tứa máu.
Đêm muộn, khi cha mẹ đã ngủ say, ta ra sân sau đứng hóng gió để đầu óc tỉnh táo lại.
Bóng tối bao trùm lấy thôn Hà Hoa. Ta rút ra viên kẹo mạch nha từ trong túi áo mà Tiểu Xán đã lén đưa cho ta khi ta mới trở về. Ta đưa lên miệng, khẽ liếm một chút. Vị ngọt thanh xen lẫn vị đắng chát lan tỏa trên đầu lưỡi, giống như viên kẹo từ ba năm trước.
Ba ngày nghỉ phép rồi sẽ qua nhanh như một cái chớp mắt. Ta sẽ phải quay lại Kinh thành, chui vào cái lốt hoạn quan tạp dịch Nhị Thuận vô hình trong Tử Cấm Thành. Nhưng ít nhất, ta biết ngôi nhà này đã được an toàn. Như vậy là đủ rồi.