Chương 3

C3

Cánh cửa Đông Hoa Môn nặng nề rít lên một tiếng dài rồi chậm rãi mở ra một khe hẹp. Ta bước qua ngưỡng cửa cao vút, lén nhìn lại bóng đại điện vàng son rồi quay đầu bước đi, cảm giác như vừa bước qua ranh giới giữa âm phủ và dương gian.

Ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi. Để có được tấm thẻ bài cho phép rời cung này, ba năm qua ta đã phải làm việc như một con trâu không biết mệt. Ta khâu chặt những mảnh bạc vụn tích góp được vào lớp lót trong cùng của chiếc áo, bắt xe bò đi hết nửa ngày trời, băng qua lớp tuyết mỏng để trở về thôn Hà Hoa vùng Hoài Bắc. Khi cải trang thành một thiếu niên đi làm thuê xa nhà trở về, ta buộc phải chôn giấu toàn bộ thân phận hoạn quan của mình vào bóng tối.

Trở về đến đầu thôn, trái tim ta đập loạn nhịp như trống trận.

Thôn Hà Hoa đã thay đổi chút ít. Hơn hai năm liền không gặp đại hạn, lại thêm số tiền ta đều đặn gửi về, ngôi nhà tranh xơ xác ngày xưa đã được sửa sang lại. Mái tranh được lợp một lớp rơm mới dày dặn, vững chãi, vách đất nứt nẻ đã được trát lại vuông vắn. Ngoài sân vang lên tiếng cục ta cục tác của đàn gà, và sâu hơn một chút lại nghe thấy tiếng lợn ủi trong máng. Tất cả đều là những âm thanh bình dị mà ba năm qua ta chưa từng được nghe.

Ta đứng chôn chân trước cửa, bỗng nhiên cảm thấy sợ hãi. Ta cúi đầu nhìn lại bản thân, thân thể gầy gò, nước da có màu trắng bợt, đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo, cằm nhẵn nhụi không một sợi râu dù đã mười tám tuổi. Tệ hơn cả là sống lưng không chịu đứng thẳng. Ba năm quỳ gối phục dịch đã biến dáng đi thẳng tắp thành một cái bóng khom mình trong vô thức, hai tay luôn thu gọn trong ống tay áo theo tư thế cung kính của kẻ hạ nhân.

“Ai... Là ai đứng ngoài cửa thế?”

Một giọng nói già nua, run rẩy vang lên. Người mẹ từ trong gian bếp bước ra, tay ôm rổ tre đựng rau dại. Bà gầy hơn trước, tóc đã bạc nửa đầu, nhưng đôi mắt không còn vẻ tuyệt vọng như ba năm trước. Bà nheo mắt nhìn bóng người gầy gò ngoài cổng, rổ tre trên tay đột ngột rơi xuống đất, những cọng rau xanh vương vãi trên nền tuyết.

“Tiểu Thạch... Tiểu Thạch phải không?”

Bà lao đến, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy đẩy cánh cửa nhà chính, nhào về phía ta. Khác với ba năm trước khi ta tỉnh dậy trên giường bệnh, lần này ta không còn khựng lại vì bản năng bài xích. Ta dang tay ôm chặt lấy bả vai gầy yếu của bà. Mùi khói bếp nồng nặc hoà lẫn cùng mùi mồ hôi của người lao động xộc thẳng vào mũi ta. Thứ mùi mà ở thế kỷ hai mươi mốt ta từng vô cùng ghét bỏ, giờ đây lại khiến sống mũi ta cay xè, nước mắt chực trào ra.

“Mẹ... con đã về.” Ta cất giọng, cố gắng hạ thấp tông giọng xuống để giấu đi chất giọng thanh mảnh.

Tiếng khóc của mẹ làm kinh động đến người trong nhà. Cha ta bước ra, tay chống một cây gậy trúc. Và đằng sau ông, một thiếu nữ mười hai tuổi bước ra. Tiểu Xán đã lớn hơn, không còn là chú mèo gầy gò năm xưa. Con bé mặc một chiếc áo bông màu xanh xám tuy cũ nhưng sạch sẽ, mái tóc đen nhánh được tết gọn gàng sau lưng, đôi mắt to tròn lấp lánh nhìn ta đầy kinh ngạc, rồi biến thành niềm vui sướng hân hoan.

“Ca ca!” Con bé reo lên, định lao đến nhưng chợt khựng lại, có chút e thẹn của một thiếu nữ mới lớn.

Đêm hôm đó, dưới mái nhà tranh ấm áp, ngọn đèn dầu leo lét thắp sáng cả gian nhà. Mẹ nấu một nồi cơm gạo trắng thơm phức mà ba năm qua gia đình chưa từng dám ăn thỏa thích, kèm theo đó là một đĩa trứng gà xào hẹ vàng ruộm mà bà nói là đã tích cóp từ nửa tháng trước để đợi ta trở về.

Cha ngồi ở đầu bàn, khuôn mặt khắc khổ giãn ra đầy tự hào. Ông nâng chén rượu nhạt lên, mắt đỏ hoe:

“Tiểu Thạch, ba năm qua con vất vả rồi. Cả cái làng này, ai cũng bảo nhà ta có phúc mới sinh được một đứa con hiếu thảo như con. Số bạc con gửi về từ chỗ làm thuê trên Kinh thành không chỉ cứu mạng hai thân già này, mà còn giúp Tiểu Xán được đi học chữ. Con là nam nhi đầu đội trời chân đạp đất của nhà họ Lý chúng ta!”

“Con là nam nhi đầu đội trời chân đạp đất...”

Câu nói của cha như một tia sét đánh thẳng vào đại não ta, khiến toàn thân ta đông cứng.

Ta nhìn xuống đôi bàn tay đang đặt trên đùi, hai ngón tay cái vô thức cấu chặt vào nhau dưới lớp quần vải. Nam nhi ư? Bây giờ ta còn tư cách gì để nhận hai chữ ấy? Sự thật tàn khốc nằm dưới lớp y phục thô kệch kia là một vết sẹo nhục nhã, một cơ thể tàn khuyết không bao giờ có thể làm một người đàn ông thực sự. Sự tự hào của ông, niềm kính trọng của Tiểu Xán, tất cả đều được xây dựng trên lời nói dối tàn nhẫn mà bọn buôn người đã sắp đặt nên. Họ hoàn toàn tin rằng ta đang làm việc ở một phủ đệ lớn trên Kinh thành, ăn no mặc ấm, chứ đâu biết ta chỉ là một con chó quỳ rạp dưới chân người khác trong cung cấm.

Nỗi đau đớn dâng lên tận cổ họng đến mức đắng ngắt. Ta cố nuốt miếng cơm nghẹn ứ, gượng cười:

“Cha nói gì vậy... Con là con của cha mẹ, đi làm công cho người ta, chịu khổ chút ít có là gì.”

“Năm nay Tiểu Thạch đã mười tám rồi.” Mẹ vừa gắp cho ta miếng trứng lớn nhất, vừa cười vừa nói, ánh mắt tràn đầy sự suy tính của một người mẹ.

“Để mẹ đánh tiếng với nhà bên cạnh có được không? Con gái út của ông ấy năm nay mười sáu tuổi, là cô nương thuỳ mị nết na.”

“Tiền con gửi về, chúng ta đã cố gắng chắt bóp, cũng để dành được một khoản làm tiền tiết kiệm cho con rồi. Đợi đến khi hết hạn khế ước làm thuê với chủ nhà rồi trở về, con cưới người ta cũng được. Mẹ tính như vậy, con thấy có được không?”

Bà nhìn ta, ánh mắt vô cùng xót xa: “Khi nào thì hết hạn khế ước? Mẹ biết con kiếm được tiền, nhưng chắc chắn không dễ dàng gì. Con xem, gầy thành thế này rồi, sắc mặt cũng không tốt. Chừng nào hết hạn con trở về đi, ruộng vườn cũng làm được trở lại rồi. Tuy rằng không kiếm được nhiều tiền nhưng chung quy vẫn là làm cho chính mình. Đi làm thuê cho người ta, có uất ức nào mà không phải chịu chứ?”

Ầm ầm.

Đầu óc ta hoàn toàn trống rỗng. Mạch máu trong người như đảo ngược. Cưới vợ ư?

Sự hoảng loạn tột cùng ập đến đánh sập toàn bộ hàng phòng ngự lý trí mà ta đã dày công xây dựng suốt ba năm qua. Trong một khoảnh khắc mất kiểm soát, khi cha đứng dậy định đi lấy thêm bình rượu, bản năng phục dịch bấy lâu ở Thận Hình Ty đột ngột trỗi dậy, đè bẹp ý thức của một người làm con.

Ta bật đứng dậy, cơ thể tự động khom lưng, hai tay vòng trước ngực, đầu cúi thấp đến mức cằm chạm vào ngực, ngữ khí hèn mọn, khép nép cất lên theo thói quen:

“Cha... Xin cha cứ ngồi yên, để... để con trai hầu hạ.”

Chữ “Nô tài” suýt chút nữa đã bật ra khỏi miệng, may mắn được ta cắn răng nuốt ngược vào trong. Thế nhưng dáng đứng khom lưng cúi đầu, hai vai rụt lại, cùng bộ dạng kính cẩn một cách kỳ quái ấy đã phơi bày phần nào.

Gian nhà tranh đột ngột rơi vào im lặng đến đáng sợ.

Tiếng gió rít qua khe cửa nghe rất rõ ràng. Cha ta đứng sững lại giữa chừng, đôi mắt già nua nhìn chằm chằm vào sống lưng còng xuống của đứa con trai, chén rượu trên tay khẽ nghiêng, làm đổ vài giọt xuống nền đất. Mẹ ta ngừng hẳn việc gắp thức ăn, nhìn ta với ánh mắt ngơ ngác xen lẫn bàng hoàng khó có thể diễn tả.

Dáng vẻ ấy chính là sự sợ hãi đã ăn sâu vào xương tủy. Ta nhận ra mình đã phạm phải một sai lầm chết người. Mồ hôi lạnh chảy ròng ròng sau lưng, thấm đẫm vết thương cũ chưa lành. Ta vội vàng xoay người đỡ lấy chén rượu trên tay ông.

Tiếng khóc nghẹn ngào của mẹ đột ngột phá tan bầu không khí im lặng. Bà lao đến, ôm chầm lấy sống lưng đang còng xuống của ta, những giọt nước mắt nóng hổi thấm qua lớp áo thô nhám.

“Ở trên Kinh thành... cái nhà giàu ấy người ta đã hành hạ con đến mức nào? Nói cho ta biết đi!”

Cha ta buông thõng hai tay, cây gậy trúc rơi cạch xuống đất. Đôi mắt ông đỏ ngầu, hàm răng nghiến chặt đến mức phát ra tiếng kêu, lồng ngực phập phồng vì phẫn nộ và bất lực.

Họ không nghi ngờ điều gì khác. Họ chỉ nghĩ rằng, phủ đệ giàu sang trên Kinh thành kia là một nơi tàn nhẫn, và người con trai hiếu thảo của họ đã phải chịu ấm ức, bị ép buộc phải từ bỏ lòng tự trọng của một nam nhi để đổi lấy những đồng tiền gửi về cứu mạng gia đình. Họ đau lòng, họ phẫn nộ vì nghĩ con mình phải làm trâu làm ngựa, chứ hoàn toàn không thể ngờ đến sự thật kinh nghiêng trời lệch đất phía sau.

Ta lén thở phào một hơi, tim vẫn đập thình thịch trong lồng ngực. Ta vội vàng đứng thẳng người lên, cố gắng nặn ra một nụ cười tự nhiên nhất có thể.

“Cha, mẹ, hai người nghĩ đi đâu thế. Quy củ của những gia đình danh giá trên Kinh thành nghiêm ngặt lắm, từ người hầu đến quản gia đều phải học phép tắc đi đứng. Con làm việc ở đó, tiếp xúc với toàn người quyền quý, nếu không học lễ nghi thì đã bị đuổi từ lâu rồi. Đây là thói quen thôi, con không bị ai đánh đập cả, mọi người đừng lo.”

Lời giải thích của ta dẫu hợp lý, nhưng không khí bữa cơm không thể nào vui vẻ trở lại được nữa. Cha mẹ nhìn ta với ánh mắt tràn đầy xót xa. Họ liên tục gắp thức ăn vào bát ta, như muốn bù đắp lại tất cả những tủi nhục mà họ nghĩ ta đã phải gánh chịu suốt ba năm qua.

Tiểu Xán ngồi ở góc bàn vẫn im lặng. Con bé nhìn đĩa trứng xào rồi lại nhìn ta. Đôi mắt to tròn của cô bé mười hai tuổi ngập tràn một nỗi buồn mênh mang. Con bé vuốt ve chiếc áo bông ấm áp mình đang mặc trên người, có lẽ trong lòng đang tự nhủ. Sự ấm áp của gia đình này, học vấn của bản thân con bé, mạng sống của cha mẹ, tất cả đều được đánh đổi bằng sự tự do và những năm tháng thanh xuân bị chà đạp của ca ca nơi đất khách. Con bé càng thương ca ca, lòng ta lại càng như có ngàn mũi dao đâm đến tứa máu.

Đêm muộn, khi cha mẹ đã ngủ say, ta ra sân sau đứng hóng gió để đầu óc tỉnh táo lại.

Bóng tối bao trùm lấy thôn Hà Hoa. Ta rút ra viên kẹo mạch nha từ trong túi áo mà Tiểu Xán đã lén đưa cho ta khi ta mới trở về. Ta đưa lên miệng, khẽ liếm một chút. Vị ngọt thanh xen lẫn vị đắng chát lan tỏa trên đầu lưỡi, giống như viên kẹo từ ba năm trước.

Ba ngày nghỉ phép rồi sẽ qua nhanh như một cái chớp mắt. Ta sẽ phải quay lại Kinh thành, chui vào cái lốt hoạn quan tạp dịch Nhị Thuận vô hình trong Tử Cấm Thành. Nhưng ít nhất, ta biết ngôi nhà này đã được an toàn. Như vậy là đủ rồi.