Chương 2

C2

Cơn sốt âm ỉ từ những vết thương chồng chéo trên lưng giống như một chiếc lưỡi khoan, đục khoét đến tầng sâu nhất của ý thức, kéo ta chìm sâu vào giấc mơ hỗn độn. Trong cơn mê sảng, thời gian như dòng nước chảy ngược, đưa ta trở về mười bảy ngày trước. Cái ngày mà linh hồn của một kẻ đến từ thế kỷ hai mươi mốt này lần đầu tiên mở mắt nhìn ngắm thế giới cổ đại.

Khi ấy, thứ đánh thức ta không phải là tiếng còi xe inh ỏi dưới đường phố hay tiếng chuông báo thức quen thuộc từ điện thoại, mà là cơn đau đầu như búa bổ, kèm theo đó là cảm giác lồng ngực bị đè nặng, mỗi hơi thở hít vào đều sực mùi đắng ngắt của thuốc nam và mùi bùn đất ẩm mục.

Ta mở mắt. Đập vào mắt là một mái tranh xơ xác, xập xệ đến mức những đường gia cố đã mủn nát, để lộ ra những kẽ hở lớn nhìn thấu cả bầu trời xám xịt của ngày đông. Ta nằm trên một chiếc giường đất, bên dưới lót một lớp rơm rạ mỏng và bên trên đắp tấm chằng chịt những vết chắp vá từ những mảnh vải thô đã sờn.

“Tỉnh rồi! Ông nó ơi, Tiểu Thạch nhà ta tỉnh lại rồi!”

Âm thanh khàn đặc, nghẹn ngào vang vọng bên tai. Một người phụ nữ trung niên lao đến bên giường đất, trông gầy gò đến mức đáng sợ, hai gò má trơ xương nhô cao, đôi bàn tay như hai cành củi khô đầy những vết nứt nẻ nắm chặt lấy vai ta. Đằng sau bà là một người đàn ông khắc khổ lặng yên đứng đó, sống lưng hơi còng, trên tay bưng một chiếc bát sứ sứt mẻ đựng thứ nước đen sì, bốc khói nghi ngút.

Qua những lời bàn tán xôn xao của vài người hàng xóm đứng ló đầu ngoài cánh cửa và những thông tin chắp vá từ cuộc trò chuyện của hai vợ chồng họ trong ba ngày sau đó, ta mới bàng hoàng nhận ra hoàn cảnh của thân xác này.

Thân xác này mười ba tuổi, tên ở nhà gọi là Tiểu Thạch. Hắn vừa trải qua một trận sốt cao sau khi liều mạng nhảy xuống hồ nước đóng băng sau làng để vớt món đồ mà nhà địa chủ làm rớt, đổi lấy ba đồng. Không vớt được món đồ, nhưng thân thể hắn thì bị ngấm nước lạnh suốt nhiều giờ, bản thân không chống đỡ nổi. Cha mẹ hắn đã khóc đến cạn nước mắt, thậm chí đã chuẩn bị chôn cất đứa con trai duy nhất.

Đây là năm Cảnh Hoà thứ mười hai. Vùng Hoài Bắc gặp hạn hán ba năm liền, đất đai nứt nẻ, hạt lúa gieo xuống chưa kịp nảy mầm đã bị nắng thiêu cho cháy rụi. Đến mùa đông năm nay, trời lại đổ tuyết lớn. Cái lạnh khắc nghiệt ập xuống khiến những gia đình nghèo khổ hoàn toàn rơi vào cảnh đường cùng. Tô thuế của quan phủ không hề giảm, gạo trong hũ đã cạn sạch từ nửa tháng trước, cả nhà chỉ biết ăn vỏ cây và đào rễ cỏ mà sống qua ngày.

Trong nhà, ngoài cha mẹ già yếu bệnh tật, còn có một em gái chín tuổi, tên là Tiểu Xán. Con bé gầy yếu, nhỏ thó như một chú mèo con suy dinh dưỡng, mái tóc xơ xác như rơm khô được tết thành hai bím tóc nhỏ, đôi mắt to quá khổ so với khuôn mặt nhỏ nhắn, lúc nào cũng nhìn ta với vẻ mặt lo lắng nhưng đầy sự ỷ lại.

Vào ngày thứ tư sau khi tỉnh lại, khi thể xác đã hồi phục được vài phần, đầu óc của ta bắt đầu vận hành. Ta tự nhủ, ta là một người đàn ông trưởng thành có học thức, ta biết các phương pháp canh tác hiện đại, biết cách quản lý, dẫu ở thời cổ đại này ta cũng có thể tìm cách làm giàu, đưa gia đình này thoát nghèo. Tại sao phải ở lại cái xó xỉnh này? Ta đã âm thầm lên kế hoạch bỏ trốn ngay khi cơ thể ổn hơn một chút. Thế nhưng, kế hoạch đào tẩu ấy đã hoàn toàn sụp đổ vào ngày thứ năm, khi ta lần đầu tiên nhìn kỹ diện mạo của những người gọi là "gia đình" này.

Hôm ấy, trời lạnh thấu xương, gió rít liên hồi qua khe cửa lỏng lẻo. Người mẹ gầy gò ngồi bên cạnh giường, dùng đôi bàn tay thô ráp như giấy nhám nhẹ nhàng xoa lòng bàn chân cho ta để giữ ấm. Bà vừa xoa vừa sụt sùi nước mắt, lẩm bẩm những lời khấn cầu đầy thành kính gửi đến các bậc thần phật phương nào, cảm tạ họ đã trả lại mạng sống cho con trai bà.

Ở góc phòng, người cha đang cúi rạp người bên bếp lửa tắt ngấm, cố gắng thổi vào vài cọng rơm ẩm để mồi chút hơi ấm. Ông ho khan dữ dội, mỗi tiếng ho đều như xé rách lồng ngực. Để có tiền bốc ba thang thuốc, hai người đã phải vay tiền của Lý trưởng.

Còn Tiểu Xán đang ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm lấy đầu gối ta. Con bé không nói không rằng, chỉ dùng đôi mắt to tròn, trong veo nhưng đượm buồn nhìn ta một cách đầy ỷ lại. Thấy ta nhìn sang, con bé khẽ mỉm cười, chìa ra một chút nước ấm trong chiếc bát sứt mẻ: "Ca ca, uống nước."

Ta chết lặng, đôi bàn chân như bị đóng đinh xuống nền đất lạnh.

Tiểu Thạch thực sự đã c,h,ế,t vào cái ngày hắn ngã xuống hồ băng. Linh hồn của đứa trẻ mười ba tuổi ấy đã hoàn toàn tiêu tán, để lại cái vỏ rỗng để ta dung nạp. Ta không biết vì sao bản thân lại sống trong thân thể của kẻ khác. Nhưng cho dù là kẻ sống trong thân xác của con trai họ, họ lại đang dùng tất cả những gì còn sót lại của một gia đình khốn cùng để nuôi dưỡng linh hồn xa lạ này. Mặc dù họ không biết thân phận thực sự của ta, nhưng bản thân ta lại đang nhận tất cả tình cảm từ họ.

Ở kiếp trước, ta vốn là một đứa trẻ mồ côi lớn lên trong cô nhi viện, thuở nhỏ bị bắt nạt rồi xa lánh, trưởng thì thì quay cuồng trong danh lợi, chưa từng biết đến cái gọi là hơi ấm của tình thân ruột thịt. Những người xung quanh ta chỉ có lừa lọc, lợi dụng và hơn cả là ganh đua muốn đạp người khác xuống dưới chân mình.

Nhìn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má đầy nếp nhăn của người mẹ, nhìn ánh mắt tràn đầy sự bao dung, lo lắng của người cha và khuôn mặt ngây thơ, đói khát của Tiểu Xán, lòng trắc ẩn và lương tri của một con người trong ta đột ngột thức tỉnh. Ta không thể bỏ đi như một kẻ máu lạnh. Thân xác này ta đã nhận, thì tình nghĩa này ta phải trả.

Ta từ bỏ ý định trốn chạy. Lồng ngực ta bừng lên sự quyết tâm mạnh mẽ. Ta phải sống, phải tìm cách kiếm tiền cứu gia đình này thoát khỏi cảnh túng quẫn. Với tri thức và tư duy của một người hiện đại, dẫu có phải chìm nổi trong các nghề, ta cũng tin mình có thể nuôi sống được ba mạng người này.

Tuy nhiên, việc một linh hồn hơn hai mươi tuổi cố gắng đóng vai một đứa trẻ nông thôn mười ba tuổi không thể nào hoàn hảo không tì vết. Dù ta đã cố gắng hết sức để hành xử tự nhiên, những phản ứng bản năng vô thức của một người đến từ thế giới khác vẫn âm thầm để lộ sơ hở.

Trong những ngày ta dưỡng bệnh và bắt đầu giúp đỡ cha mẹ việc vặt, Tiểu Xán luôn dùng đôi mắt to tròn, lặng lẽ nhìn ta từ phía góc nhà. Có lẽ sự nhạy cảm của tình thân ruột thịt khiến con bé mơ hồ nhận ra anh trai mình có điều gì đó rất lạ.

Ví dụ như một buổi chiều, khi ta đang ngồi bên ngưỡng cửa sửa lại chiếc cào cỏ, Tiểu Xán từ ngoài sân chạy vào, đôi mắt đỏ hoe vì bị mấy đứa trẻ khác bắt nạt. Có lẽ theo thói quen trước đây đối với của nguyên thân, con bé sẽ nhào thẳng vào lòng anh trai, ôm chặt lấy hắn mà khóc lóc kể lể. Lần này cũng vậy, con bé lao đến, vòng tay ôm lấy eo ta.

Ngay khoảnh khắc cơ thể nhỏ bé của con bé chạm vào ta, cơ thể ta vô thức khựng lại một nhịp cứng nhắc. Bản năng giữ khoảng cách xã giao khiến ta có một sự bài xích tâm lý đối với người lạ. Phải mất vài giây sau, lý trí mới kịp điều khiển, khiến đôi bàn tay của ta giơ lên, nhẹ nhàng và chậm rãi xoa đầu con bé để vỗ về. Sự khựng lại ấy rất khẽ, nhưng Tiểu Xán đang áp mặt vào hông ta đã cảm nhận được sự xa cách mơ hồ. Con bé khẽ ngước đầu lên nhìn ta bằng đôi mắt ngập nước, cái nhìn chứa đựng cả sự mơ hồ khó có thể diễn tả.

Hay như một lần khác, khi người mẹ bưng đến bên giường cho ta một bát cháo loãng nấu từ củ mài đào trên rừng và vài hạt kê. Ta đón lấy bát cháo từ đôi bàn tay gầy guộc của bà, nhìn làn khói mỏng bốc lên, theo phản xạ đã ăn sâu vào máu, ta khẽ cúi đầu nói nhỏ:

“Cảm ơn mẹ, mẹ vất vả rồi.”

Bà khựng lại giữa chừng, đôi bàn tay đang co rút vì lạnh chợt run lên một nhịp. Ở thôn quê nghèo đói xơ xác này, con cái ăn đồ cha mẹ nấu là lẽ tự nhiên, có đứa trẻ nông thôn nào lại dùng ngữ khí khách sáo, lễ phép đến mức như một người khách đang nói lời cảm tạ với chủ nhà như thế? Ánh mắt bà nhìn thoáng qua một chút ngỡ ngàng xen lẫn xa lạ, sau đó khẽ thở dài, xoa xoa vạt áo vào nhau:

“Con ngoan, mau ăn đi cho nóng.”

Lại có lần, người cha lên cơn ho khan dữ dội bên bếp lửa vào ban đêm. Ta vô thức đứng bật dậy khỏi giường, bước nhanh đến bên ông, đưa hai tay đỡ lấy bả vai ông bằng sự cẩn trọng và giữ khoảng cách nhất định như cách một thanh niên trẻ tuổi đang giúp đỡ một ông lão xa lạ gặp được ngoài đường. Nhưng ta chưa từng hiểu, người làm con như Tiểu Thạch đứng trước cha mẹ mình, có thể thô lỗ, nhưng tự nhiên, chân thành. Nào có người con nào dè dặt trước cha mẹ như ta. Bởi vì ta là kẻ xa lạ, bởi vì ta chưa từng có được, nên cũng không biết phải xoay sở ra sao.

Những chi tiết ấy thoáng qua rồi biến mất trong nháy mắt. Cha mẹ đều cho rằng sau một trận bệnh nặng thập tử nhất sinh, đứa trẻ có phần thay đổi tính cách là điều bình thường. Tiểu Xán cũng tự thuyết phục mình như vậy, nhưng dưới đáy lòng của cô bé chín tuổi, một hạt giống kỳ lạ đã được gieo xuống, mơ hồ và nhỏ bé đến mức chính con bé cũng không thể đặt tên.

Vào ngày thứ bảy sau khi tỉnh lại, cảm thấy thể xác đã hồi phục được bảy tám phần, ta quyết định lên dây cót tinh thần, lên thị trấn một chuyến để tìm việc làm, bắt đầu kế hoạch kiếm tiền nuôi gia đình.

Sáng hôm ấy, trời đổ một trận tuyết nhỏ. Tiểu Xán tiễn ta ra đến cổng thôn. Con bé ngước nhìn ta, đôi mắt to tròn lấp lánh mờ mịt. Tiểu Xán thọc tay vào trong túi áo ngực, ngập ngừng rất lâu, hai bàn tay đan chặt vào nhau đầy do dự, rồi mới rụt rè nhét vào lòng bàn tay ta một vật nhỏ xíu được bọc cẩn thận trong một chiếc lá khô đã chuyển sang màu nâu sẫm.

Ta mở chiếc lá ra. Bên trong là một viên kẹo mạch nha nhỏ bằng ngón tay cái, đã hơi chảy nước vì hơi ấm cơ thể. Đó chắc chắn là thứ con bé đã giấu rất kỹ, cho dù đói khát cũng không nỡ lấy ra ăn.

Tiểu Xán mím chặt môi, ngập ngừng một lúc lâu mới thốt lên thành tiếng:

“Ca ca... mang theo ăn cho có sức đi đường xa. Huynh... nhớ phải về sớm nhé.”

Ta nắm chặt viên kẹo mạch nha trong lòng bàn tay, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm áp. Ta khẽ gật đầu, đưa tay xoa đầu con bé:

“Được, ca ca nhớ rồi. Ca ca đi kiếm tiền mua gạo trắng về cho Tiểu Xán và cha mẹ.”

Thế nhưng, ta hoàn toàn không lường trước được rằng, thế giới cổ đại này tàn nhẫn và đen tối hơn những gì một người sống trong xã hội pháp trị như ta có thể tưởng tượng.

Khi ta đến huyện thành Hoài Bắc, mọi thứ hoàn toàn khác xa. Nơi này không có chỗ để một kẻ không có thân phận, không có người bảo lãnh như ta thể hiện tài năng. Ta đến các hiệu buôn lớn xin làm chân chạy việc hay ghi chép sổ sách, nhưng tất cả đều nhìn bộ quần áo chằng chịt những vết khâu vá của ta bằng ánh mắt khinh miệt. Xua đuổi ta như đuổi một gã ăn mày.

Đến chiều muộn, khi ta đang thất vọng bước đi trong một con hẻm nhỏ vắng người phía sau khu chợ trung tâm để tìm đường về làng thì tai họa ập đến.

Một toán người lạ mặt bỗng nhiên lao ra từ trong bóng tối. Ta chưa kịp định thần hay lên tiếng kêu cứu thì một bàn tay thô bạo đã bịt chặt lấy miệng ta từ phía sau. Một chiếc khăn tay sực nức mùi hương liệu nồng nặc áp thẳng vào mũi. Ta giãy dụa kịch liệt, nhưng sức lực của một thiếu niên mười ba tuổi đến miếng ăn còn chẳng đủ no không thể nào chống lại được những gã đàn ông lực lưỡng. Tầm nhìn của ta tối sầm lại, ý thức nhanh chóng chìm vào bóng tối đen đặc.

Khi ta mở mắt ra một lần nữa, xung quanh là khoảng không gian tối tăm, ẩm thấp của một căn hầm đá. Tay chân ta bị xích chặt vào tường bằng những sợi xích sắt rỉ sét, từng sợi xích siết vào da thịt đau đớn.

“Tỉnh rồi à?”

Một giọng nói khàn khàn, nham hiểm vang lên. Một gã đàn ông trung niên có khuôn mặt đầy vết sẹo dài, tay cầm một thanh đao ngắn bước lại gần.

“Các người... các người là ai? Tại sao lại bắt ta?” Ta khàn giọng hỏi, trong lòng dâng lên một nỗi sợ hãi vô hình.

Tên cầm đầu cười sằng sặc, ném xuống trước mặt ta một tờ giấy có đóng dấu mộc đỏ chót của nha môn huyện phủ:

“Nhìn cho kỹ đi. Đây là khế ước tự nguyện vào cung làm sai dịch của ngươi. Trên đó có đầy đủ tên tuổi, quê quán và cả dấu vân tay điểm chỉ của người nhà ngươi nữa đấy.”

Ta trừng lớn mắt nhìn tờ giấy. Trên đó quả thực ghi rõ tên ta, nhưng dấu vân tay đỏ chót kia hoàn toàn là giả mạo!

“Các người làm giả giấy tờ! Người ta không hề ký cái này!” Ta phẫn nộ hét lên.

“Giả mạo thì đã sao?” Tên khốn cầm đầu dửng dưng dùng mũi đao cạo cạo móng tay.

“Năm nay Hoàng cung tuyển sai dịch với số lượng lớn, mỗi một suất thiếu niên khỏe mạnh dưới mười sáu tuổi, bọn ta sẽ được nhận mười hai lượng bạc tiền công. Bọn ta chỉ mượn cái mạng của ngươi để đổi lấy chút bạc tiêu xài thôi mà.”

“Nếu ta biến mất, gia đình ta sẽ báo quan! Các ngươi sẽ không thoát được đâu!”

Ta cố gắng dùng luật pháp để đe dọa gã.

Ai ngờ hắn nghe xong lại phá lên cười như thể vừa nghe thấy một câu chuyện khôi hài nhất thế gian:

“Báo quan? Ngươi nghĩ bọn ta ngu ngốc thế sao? Ngay chiều hôm nay, một tên thủ hạ của ta đã đóng giả làm quản sự của một hộ gia đình lớn trên tỉnh, mang theo ba lượng bạc đến nhà ngươi ở thôn Hà Hoa rồi. Hắn nói với cha mẹ ngươi rằng ngươi thông minh, được lão gia nhà bọn ta nhìn trúng nên nhận làm gia đinh lo việc trong phủ, phải đi theo đoàn xe lên tỉnh làm việc ngay trong đêm nên không kịp trở về từ biệt. Ba lượng bạc đó là tiền đặt cọc gửi về cho gia đình.”

Gã bước lại gần, dùng sống dao lạnh ngắt vỗ vỗ vào gò má ta, ánh mắt đầy sự giễu cợt:

“Cha mẹ ngươi nghe xong thì khóc lóc thảm thiết nhưng lại mừng rỡ khôn xiết, liên tục dập đầu cảm tạ đại nhân đã cho con trai họ một con đường sống, một cơ hội đổi đời. Họ đang ôm ba lượng bạc ấy để mua lương thực và thuốc thang kìa, làm sao mà đi báo quan tìm ngươi được chứ? Ngươi cứ yên tâm mà lên Kinh thành hầu hạ các quý nhân đi!”

“À, hai người liên tục hỏi thăm ngươi đấy. Nói thân thể ngươi chưa hoàn toàn khôi phục, xin chúng ta nói với chủ nhân giơ cao đánh khẽ. Dặn để tâm đến ngươi, chăm sóc ngươi giúp bọn họ đấy.”

“Chà chà, đúng là già cả rồi. Nói gì mà nói lắm thế không biết. Vào cung rồi, mạng của ngươi đều nằm trong tay quý nhân. Khôn hồn làm việc cho tử tế thì mới có thể giữ mạng. Ngang bướng thì chỉ có tự tìm đường chết thôi.”

Lời nói của gã như một gáo nước lạnh dội thẳng từ đỉnh đầu xuống chân ta, khiến toàn thân ta đông cứng, cõi lòng tê dại, hoàn toàn tuyệt vọng. Thì ra gã là một tên đầu sỏ của băng nhóm chuyên bắt cóc, buôn bán người khét tiếng vùng Hoài Bắc. Con cái gia đình nghèo khó, không có chỗ dựa sẽ nhận phải kết cục như vậy sao? B,ắ,t c,ó,c đứa trẻ ném vào đầm rồng hang hổ còn chưa đủ, lại quay qua lừa gạt cả cha mẹ tuổi già tin vào những hy vọng dối trá.

Hóa ra, mọi kế hoạch làm giàu, mọi sự tự tin của một người hiện đại trong ta đã bị hiện thực tàn nhẫn của thời đại này nghiền nát thành tro bụi một cách dễ dàng như vậy. Bọn bắt cóc đã tính toán vô cùng chu toàn. Chúng dùng ba lượng bạc để bịt miệng và đánh lừa họ. Đó là số tiền nhỏ đối với chúng nhưng là tài sản khổng lồ có thể cứu mạng gia đình Tiểu Thạch.

Cha mẹ và Tiểu Xán ở quê nhà giờ đây vẫn đang cầu nguyện cho ta có một cuộc sống sung túc nơi đất khách quê người, hoàn toàn không biết đứa con trai độc nhất của họ đang bị đẩy vào địa ngục không lối thoát.

Hai ngày sau, ta cùng hàng chục đứa trẻ bị b,ắ,t c,ó,c khác bị đưa lên Kinh thành, tống thẳng vào phủ Nội Vụ. Cánh cửa gỗ dày cộp khép lại một tiếng “rầm” khô khốc sau lưng ta, ngăn cách hoàn toàn ánh sáng mặt trời bên ngoài và thế giới tự do mà ta từng mơ ước. Trong ánh sáng mù mờ, nhìn chiếc bàn gỗ dài dính đầy những vệt máu khô sẫm màu và những lưỡi dao tịnh thân sáng loáng, ta chậm rãi nhắm mắt lại.

Nước mắt lặng lẽ trào qua khoé mắt, hòa lẫn với sự bất lực tột cùng. Ta đã không còn đường lui. Bọn bắt cóc đã cướp đi cuộc đời làm một người bình thường của ta, nhưng chúng cũng vô tình để lại ba lượng bạc cứu mạng cho gia đình ấy. Đó là cái giá phải trả cho số phận này.

Ta siết chặt viên kẹo mạch nha trong ngực áo, tự nói với bản thân rằng: “Tiểu Thạch thực sự đã nằm lại dưới đáy hồ băng năm mười ba tuổi. Còn ta, một kẻ mang danh Tiểu Thạch, dẫu có phải biến thành một hoạn quan không lành lặn ở trong Hoàng đình sâu thẳm này, ta cũng phải gắng gượng sống sót. Ta phải sống để một ngày nào đó trở về nhìn ánh sáng ngoài kia, để gặp lại những người trong gia đình.” ........

Sau khi cánh cửa gỗ của phòng tịnh thân khép lại, ta bất tỉnh suốt ba ngày ba đêm. Khi tỉnh lại, ta thấy mình đang nằm trên một lớp chiếu rơm ẩm ướt, bên dưới thấm máu.

Nỗi đau đớn ấy không có lời nào diễn tả được. Nó không chỉ là nỗi đau thể xác khi một phần xương thịt bị tước đoạt, thiêu đốt từ trong xương tủy, khiến mỗi lần hô hấp là một lần toàn thân co rút. Người ta nhét vào chỗ vết thương của ta một đoạn ống nhỏ để tiện việc bài tiết. Ba ngày ấy, ta không được uống một giọt nước, chỉ có thể nằm im như khúc gỗ, lắng nghe tiếng rên rỉ khóc than của những đứa trẻ đồng cảnh ngộ xung quanh. Có người bị nhiễm trùng đã lặng lẽ trút hơi thở ngay giữa đêm, thi thể bị người ta kéo lê ra bãi tha ma ngoại thành như một con chó chết.

Ta đã sống sót. Bằng một ý chí cầu sinh mãnh liệt và có phần ghê tởm của một linh hồn đã từng chết một lần. Ta bấu chặt ngón tay xuống nền đất, tự nhủ mình phải sống để nhìn thấy ngày trở về, phải sống để số bạc ít ỏi kia không trở thành vô ích.

Đến khi vết thương khép miệng, ta được ban cho một cái tên mới, gọi là Nhị Thuận. Ta trở thành một tiểu thái giám tạp dịch cấp thấp nhất, bị phân về Thận Hình Ty để làm những công việc bẩn thỉu và nặng nhọc nhất.

Ở thế kỷ hai mươi mốt, ta từng đọc tiểu thuyết xuyên không. Trong những câu chuyện ấy, dẫu các nhân vật chính có rơi vào nghịch cảnh thì cũng sẽ nhanh chóng dùng kiến thức hiện đại để thay đổi cuộc sống, rồi một bước lên mây, còn có thể quyền khuynh thiên hạ.

Nhưng hiện thực tàn khốc của Tử Cấm Thành đã tạt thẳng vào mặt ta một gáo nước lạnh buốt.

Không có bàn tay vàng nào cả. Không có quý nhân nào rảnh rỗi để mắt đến một kẻ thấp kém. Càng không có cơ hội để ta thể hiện cái gọi là tri thức tương lai. Ở nơi này, một tiểu thái giám tạp dịch như ta ngay cả tư cách ngẩng đầu lên nhìn dung nhan của các chủ tử cũng không có. Mỗi khi có kiệu hoa của các phi tần hay bóng dáng của các đại thần đi qua con đường đá, việc đầu tiên ta phải làm là quỳ sụp xuống đất, không được phép phát ra bất kỳ tiếng động nào. Nếu ngươi dám làm kinh động đến quý nhân, cái chờ đợi ngươi phía trước không phải là sự chú ý, mà là một cái tát nảy lửa của người hầu cận, hoặc nghiêm trọng hơn chính là cái chết.

Công việc hằng ngày của ta bắt đầu từ lúc canh ba. Ta phải gánh nước lớn từ giếng chung ở ngoại đình, đi qua những con đường dài hun hút, trơn trượt để đổ đầy các vại nước trong các cung. Đôi bàn tay vốn dĩ đã thô ráp từ nhỏ, nay lại càng thêm thảm hại. Da tay nứt nẻ thành những rãnh sâu, gặp nước lạnh thì đau buốt thấu xương, máu rỉ ra hòa lẫn vào cùng nước giếng.

Xong xuôi, ta lại cùng mấy tiểu thái giám khác khiêng những chiếc xô gỗ đựng chất thải của các cung mang đi cọ rửa. Mùi khai, mùi hôi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi, bám chặt vào quần áo, vào tóc tai, khiến những ngày đầu tiên ta không có cách nào nuốt trôi cơm.

Mà cơm của chúng ta cũng chẳng có gì gọi là tử tế. Gạo lẫn cả sạn cát và trấu, kèm theo một đĩa rau luộc nhạt nhẽo. Thậm chí, việc được ăn no cũng là một điều xa xỉ. Chỉ cần mắc một lỗi nhỏ như quét sân còn sót lại lá, hay bưng nước rửa chân cho thái giám tiền bối chậm một nhịp, hình phạt quen thuộc nhất luôn là nhịn cơm tối và quỳ ở giữa sân ba canh giờ.

Có những đêm đông lạnh giá, bụng đói cồn cào đến mức co thắt từng cơn, ta nằm trên phản gỗ chung, nghe tiếng gió rít qua khe cửa mà nước mắt lặng lẽ chảy dài. Ta tự hỏi, ta tồn tại ở thế giới này để làm gì? Để chịu đựng nhục nhã, để làm một kẻ vô hình, một cái bóng không ai nhớ tên họ sao?

Sự kiêu hãnh cũng bị những trận đòn roi, cái đói và sự khinh miệt mài mòn đến mức nhẵn mịn. Ta học được cách cười nịnh nọt khi bị mắng, học được cách khom lưng uốn gối, học được cách biến mình thành một sự tồn tại vô hình dưới chân những kẻ quyền quý.

Động lực duy nhất, sợi dây mỏng manh duy nhất kéo giữ linh hồn ta lại với thế giới này, chính là những bức thư nhà gửi đến mỗi tháng một lần.

Hoàng cung có quy định, hạ nhân không được phép tự ý liên lạc với bên ngoài. Nhưng phủ Nội Vụ luôn có những đường dây ngầm của đám thái giám già cai quản việc thu mua nhu yếu phẩm. Chỉ cần ngươi biết điều, gom góp từng đồng tiền ít ỏi từ bổng lộc mạt hạng của mình để hiếu kính cho bọn họ, họ sẽ giúp ngươi mang một bức thư nhà vào cung khi có dịp giao dịch ngoài thành.

Năm thứ ba ta ở trong cung, lão Từ mang đến cho ta bức thư nhà thứ hai. Lần này, người viết thư đã thay đổi. Nét chữ méo mó, nguệch ngoạc, nét đậm nét nhạt chồng chéo lên nhau, rõ ràng là do một người mới tập cầm bút lông, dùng hết sức để tô vẽ từng chữ một.

“Ca ca, muội là Tiểu Xán đây.”

Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt khiến lồng ngực ta run lên bần bật.

“Tiên sinh dạy học ở đầu làng là người tốt. Ông ấy thấy nhà chúng ta có bạc mua gạo, biết cha mẹ đã bớt bệnh, lại thấy ngày nào muội cũng đứng ngoài cửa lớp ngó vào, nên đã cho muội vào học ké. Tiên sinh nói muội thông minh lắm đấy, học một biết mười. Muội đã biết viết chữ rồi.”

“Sang năm nay, cha cũng đã bớt ho rồi. Mùa đông này mẹ đã may cho cha một chiếc áo bông mới từ số tiền ca ca gửi về.”

“Đàn gà nhà ta đã đẻ được mười hai quả trứng, mẹ đều giấu kỹ, muốn để dành cho huynh ăn. Cuối cùng để lâu rồi lại hỏng mất.”

“Ở nhà mọi chuyện đều tốt, ca ca ở đấy phải ăn no mặc ấm, đừng lo cho mọi người.”

“À, cha mẹ bảo huynh giữ lại tiền phòng thân, rồi chăm lo bản thân thật tốt. Sức khỏe cha mẹ ổn rồi, đất đai cũng không còn khô cằn như trước, có thể trồng hoa màu. Cho nên, huynh phải lo cho chính mình.”

Bức thư dài hơn trước rất nhiều, chữ viết chỗ thì thiếu nét, chỗ thì thừa mực đen sì một cục. Thế nhưng, điều khiến trái tim ta thắt chặt lại chính là góc cuối cùng của tờ giấy.

Ở đó, Tiểu Xán đã dành hẳn một khoảng trống lớn để viết duy nhất một chữ. Chữ ấy được viết to nhất, nắn nót nhất, nét mực được tô đi tô lại nhiều lần cho đến khi đen bóng, nổi bật lên trên nền giấy nhám.

Ca.

Ta có thể tưởng tượng ra cảnh tượng dưới mái tranh nghèo ở Hoài Bắc, một cô bé mười tuổi, ngón tay thon gầy sưng đỏ vì lạnh, đang ngồi bên bậu cửa sổ, cẩn thận chấm mực, mím chặt môi cố gắng điều khiển cây bút lông. Đối với con bé, chữ “Ca” này không chỉ là một danh xưng, mà là niềm tự hào, là người anh trai đã bỏ quên cả chính mình, chỉ để mang lại cho gia đình cuộc sống no đủ.

Ta vuốt ve nét chữ “Ca” tròn trịa ấy, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống làm nhòe đi một góc mực. Trong bóng tối của Thận Hình Ty, ta tìm thấy lý do để mình tiếp tục chịu đựng. Ta không phải là Tiểu Thạch, nhưng ta đang sống bằng mạng sống của Tiểu Thạch và tình yêu thương thuần khiết này. Ta nguyện dùng cả phần đời này để bảo vệ.

Từ đó trở đi, cuộc sống của ta có một mục tiêu rõ rệt. Ta bắt đầu tằn tiện đến mức cực đoan. Một tháng bổng lộc của tiểu thái giám tạp dịch là hai lượng, ta không tiêu một xu nào cho bản thân. Áo bông rách, ta nhặt những mảnh vải vụn người ta bỏ đi ở Hoán Y Cục về tự khâu vá lại. Mũi giày bị rách, ta dùng dây đay tự buộc chặt lại để đi tiếp qua mùa đông. Ta giấu những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi và máu ấy dưới một tấm ván giường ở góc phòng, mỗi đêm trước khi đi ngủ đều dùng tay sờ lên đó, nhẩm tính toán xem đã tích góp được bao nhiêu để gửi về quê nhà.

Ta cứ như một con kiến nhỏ, âm thầm và lặng lẽ bò rạp dưới đáy Hoàng cung suốt mấy năm trời. Không có vinh hoa phú quý, không có sự đổi đời, chỉ có tuổi xuân trôi đi trong mùi khói bếp, mùi chất thải và những lằn roi da. Ta đã hoàn toàn thích nghi với thân phận của một hoạn quan, từ dáng đi khom lưng đến ngữ khí hèn mọn đã ngấm vào từng cử chỉ hành động.

Mùa thu năm Cảnh Hoà thứ mười lăm.

Hoàng hậu nương nương hạ sinh đích trưởng tử, triều đình đại hỷ, Hoàng thượng đại xá thiên hạ. Phủ Nội Vụ theo lệ cũ ban ân điển cho một số tiểu thái giám tạp dịch ngoại tỉnh có biểu hiện cẩn trọng, không phạm lỗi lầm hoặc lỗi lầm nhỏ trong ba năm được nghỉ phép ba ngày về quê thăm gia đình.

Khi viên thái giám quản sự cầm danh sách đọc đến hai chữ “Nhị Thuận”, ta đang quỳ bên giếng nước cọ rửa thùng gỗ. Đôi bàn tay ta khựng lại giữa chừng, dòng nước lạnh buốt từ gáo tre dội xuống chân cũng không làm ta thức tỉnh.

Ba năm. Ta sắp được trở về. Ta sắp được nhìn thấy ngôi nhà tranh ấy, nhìn thấy người cha khắc khổ, người mẹ già nua và em gái đã biết viết chữ “Ca” thật đẹp rồi.

Ta đứng dậy, khom lưng nhận lấy tấm thẻ bài cho phép ta bước ra khỏi cánh cửa Tử Cấm Thành rộng lớn.

Gió thu thổi qua sân điện, mang theo hương hoa mộc phả vào cánh mũi. Trong lòng ta dâng lên cảm xúc hỗn độn, vừa mong mỏi đến cuồng nhiệt, lại vừa có một nỗi bất an mơ hồ không thể gọi tên. Ta của ba năm sau, với thân hình tàn khuyết và tâm hồn đầy những vết sẹo này, liệu có còn là người con, người anh trai mà họ ngày đêm ngóng đợi?