Chương 3
Tạ Vãn
Phần 3: Tạ Vãn
Đêm cuối cùng ở thôn, ta ngồi dưới gốc hòe già đến tận khi trăng lặn.
Ngôi làng này không lớn. Lớn đến đâu, cũng chỉ gói gọn trong vài chục nóc nhà lợp cỏ. Người trong làng sống cả đời, từ lúc lọt lòng đến khi nhắm mắt, có lẽ cũng chưa từng bước khỏi mảnh đất dưới chân.
Khương Trúc cũng vậy. Nàng từng đứng trên sườn đồi nhìn về phương bắc không biết bao nhiêu lần. Nghe người ta nói, đi thêm vài chục dặm nữa sẽ đến được Kinh thành. Nơi ấy có tường thành cao như núi, đèn đuốc sáng suốt đêm, có những người chỉ cần dùng một câu đã quyết định được sinh tử của kẻ khác.
Nàng chưa từng đến. Mà cũng chẳng bao giờ đến. Bởi Khương Trúc đã chết dưới tảng đá bên vách núi trong đêm tuyết lạnh ấy rồi.
Người sắp rời khỏi nơi này, là ta.
……
Tiếng cửa gỗ khẽ mở phía sau. Cha Khương Trúc bước ra. Ông đứng cách ta vài bước, bàn tay thô ráp nắm chặt vạt áo, tựa như muốn nói điều gì đó, lại chẳng biết mở lời từ đâu.
Từ sau chuyện của Lý thị, lưng ông còng đi thấy rõ. Không phải vì tuổi tác, mà là vì hối hận. Có những người cả đời chỉ biết cúi đầu, cúi đến quen. Đến khi muốn ngẩng lên, mới phát hiện cổ đã cứng mất rồi. Ông chính là người như thế.
“Con à…” Ông gọi rất khẽ, giọng khàn đặc như bị cát cứa qua cổ họng.
“Xin lỗi con.”
Ta không quay đầu. Một câu xin lỗi có lẽ còn đáng giá với người còn sống. Đối với người đã chết, đã quá muộn rồi. Điều Khương Trúc cần khi còn sống, chưa từng là một câu xin lỗi. Nàng chỉ cần một người cha chịu đứng trước mặt bảo vệ nàng dù chỉ một lần. Chỉ một lần thôi. Nhưng ông ta đã không làm.
Mà là cô nương đáng nhận được sự hối lỗi từ kẻ khác đã mãi mãi vùi mình dưới ngàn lớp đất mỏng. Đáng tiếc, nàng không nghe thấy nữa rồi.
Sau lưng im lặng rất lâu.
Ta nghe thấy tiếng bước chân nặng nề, rồi một túi vải được đặt xuống bên cạnh.
“Ta bán chút đồ đạc.”
“Con cầm lấy. Muốn chi tiêu thế nào tuỳ con.”
Ta cúi đầu, thấy trong túi chỉ có mấy nén bạc vụn. Có lẽ là toàn bộ gia tài còn sót lại của ông.
Ta không từ chối. Bởi từ giờ trở đi, mỗi bước ta đi đều cần đến bạc. Ta cần thân phận, cần cơ hội, và cần cả thời gian. Mà chỉ với lòng thù hận thì không thể đổi lấy những thứ ấy được.
Ta bước qua người ông, bình thản lên tiếng: “Người đã không còn, có thể nghe thấy lời xin lỗi không? Ta đoán là không.”
Dứt lời, cứ thế sải bước đi thẳng.
Rạng sáng, ta cải trang thành nam nhi rồi rời khỏi thôn. Chỉ để lại một mảnh giấy nói sẽ lên Kinh thành tìm đường sống.
Bùi Hành Việt đứng cách đó không xa. Thiếu niên vẫn gầy gò như cũ, đôi mắt thâm sâu tĩnh lặng.
Con đường quan đạo trải dài về phía bắc. Ánh bình minh vừa nhô khỏi chân núi. Sương sớm phủ trắng cánh đồng. Ta ngoái nhìn ngôi làng lần cuối. Không phải lưu luyến. Chỉ là muốn thay Khương Trúc nhìn thêm một lần nữa. Nàng sống ở đây mười sáu năm, chịu khổ ở nơi này mười năm. Cuối cùng đến cả một nấm mộ tử tế cũng không có.
Có lẽ giờ này nàng đã đi rất xa rồi. A Trúc à, muội có đang dõi theo ta không. Xin hãy cho ta mượn thân xác này, làm chút chuyện vì chính bản thân mình.
Gió sớm thổi tung vạt áo. Ta xoay người, không ngoảnh lại nữa.
………
Buổi trưa, có một đoàn xe ngựa đi ngang. Trên xe chất đầy vải vóc, phía trước cắm cờ hiệu. Là một thương đội. Người đánh xe thấy ta đứng bên đường, thuận miệng hỏi.
“Huynh đệ. Có muốn đi nhờ một đoạn không?”
Ta nhìn hắn rồi nhìn đống hàng phía sau, khẽ lắc đầu: “Ta không có bạc.”
Người kia cười: “Ai nói lấy bạc, rảnh rỗi thì nấu cơm thay bọn ta. Nếu muốn thì cùng đi.”
Đời trước, ta học cầm kỳ thi hoạ, học nữ công, học quy củ. Chưa từng có ai dạy làm thế nào để nhóm một bếp lửa. Nhưng A Trúc lại biết tất cả. Ký ức của hai con người ký thế chồng chéo lên nhau.
Ta gật đầu: “Được.”
Đêm ấy, thương đội dựng trại bên rừng. Mọi người quây quanh đống lửa. Có người uống rượu, có người kể chuyện. Một lão thương nhân vuốt râu cười nói.
“Người trẻ bây giờ, ai cũng muốn lên Kinh thành. Chỉ nghĩ nơi ấy vàng bạc chất đầy. Lại chẳng biết rằng thứ nhiều nhất ở đó không phải vàng bạc, mà chính là mạng người.”
Mọi người cười ầm. Chỉ có ta lặng lẽ bỏ thêm một cành củi vào lửa. Ta biết ông ấy nói không sai. Ở Kinh thành, quả thực chất đầy mạng người. Có người chết vì quyền thế. Có người chết vì tiền tài. Cũng có người chết vì biết một bí mật không nên biết.
Lửa cháy lách tách. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt mọi người. Ta nhặt một cành cây khô ném vào lửa. Ngọn lửa bùng lên nuốt chửng chỉ trong chớp mắt.
Đoàn thương đội nghỉ chân ở trấn Bình An ba ngày. Ba ngày ấy, ta gần như không nói chuyện với ai. Ban ngày theo mọi người dỡ hàng. Đến tối ngồi một mình bên bếp lửa.
Người trong đoàn đều cho rằng ta vốn ít nói, cũng chẳng ai để tâm. Chỉ có lão quản sự thỉnh thoảng liếc nhìn ta. Ánh mắt ấy không mang ý dò xét, mà giống như đang cân nhắc điều gì.
Sáng ngày thứ tư. Một gã tiểu nhị ôm sổ sách chạy đến trước mặt lão quản sự.
“Chưởng quầy. Lại tính sai rồi.”
Lão quản sự chau mày: “Có bao nhiêu kiện hàng?”
"Một trăm ba mươi sáu."
"Sao trong sổ chỉ còn một trăm ba mươi bốn?"
Hai người đối chiếu gần nửa canh giờ vẫn không tìm ra. Ta đang nhóm bếp, nghe được vài câu thì ngẩng đầu.
“Không phải thiếu.”
“Là ghi nhầm.”
Hai người cùng quay lại nhìn ta. Ta đặt bó củi xuống rồi đi tới, chỉ vào một dòng trong sổ.
“Chỗ này viết hai kiện. Nhưng giá tiền lại tính theo bốn kiện.”
“Lúc cộng cuối cùng mới thiếu hai.”
Lão quản sự sửng sốt, vội cầm bàn tính gảy lại. Một lát sau ông ngẩng đầu. Quả thật là như vậy. Tiểu nhị đỏ bừng mặt, liên tục nhận lỗi. Lão quản sự không trách, chỉ nhìn ta thêm một lúc.
“Ngươi biết tính sổ?”
Ta im lặng một thoáng rồi gật đầu.
“Biết đôi chút.”
Lão quản sự bỗng hỏi: “Biết đọc biết viết cả chứ?”
Ta gật đầu. Ông không nói nữa, chỉ gật đầu rồi xoay người đi. Nhưng từ hôm ấy, ông không để ta xuống bếp nữa. Mà giao cho ta kiểm lại hàng hóa mỗi tối. Người trong đoàn đều ngạc nhiên. Có người còn cười.
“Chà, không ngờ lại biết đọc biết viết.”
Ta chỉ cười.
Đêm ấy, lão quản sự gọi ta đến. Ông rót cho ta một chén trà rồi hỏi rất đột ngột.
“Nhóc con. Ngươi thật sự là người dưới thôn sao?”
Ta nhìn ông, không đáp.
Ông cười: "Người biết chữ. Ta gặp nhiều lắm."
“Nhưng người vừa biết chữ lại vừa biết nhìn sổ sách ở tuổi này…”
“Không giống xuất thân bình thường.”
Ta khẽ đặt chén trà xuống: “Nếu ta nói, ta từng là cô nương xuất thân trong một gia đình rất khá. Sau đó sa sút. Ông có tin không?”
Lão quản sự trợn trừng mắt, nhìn ta rất lâu. Cuối cùng, ông chỉ cười.
“Con người ai cũng có chuyện không muốn kể. Ta không hỏi đến.”
“Chỉ hỏi ngươi một câu. Có muốn theo ta lên Kinh thành làm việc không?”
Ngón tay ta khựng lại. Nhưng trong lòng ta lại bình tĩnh lạ thường. Lão quản sự cũng không thúc giục. Ông chỉ chậm rãi rót thêm trà. Nước trà trong chén vừa đầy. Lá trà chìm xuống đáy. Một lúc lâu sau mới từ từ nổi lên.
Ông nhìn chén trà, cười nhạt: “Kinh thành là một nơi tốt. Mà cũng không quá tốt.”
“Chen chân vào được, đương nhiên là tốt. Bị hất khỏi, chết cũng chưa biết chừng. Dưới chân Thiên tử, uy quyền cuồn cuộn. Thông minh một chút mới có thể sống lâu.”
Ta khẽ nâng mắt. Lời ấy không phải dọa. Mà là từng trải. Người đi buôn hơn nửa đời, nhìn đủ sinh ly tử biệt, mới có thể nói ra bằng giọng bình thản như vậy.
Ta bỗng nhớ đến tiên sinh từng dạy ta rằng:
"Muốn nhìn một người có từng trải hay không, đừng nghe hắn nói mình đã thấy gì."
"Hãy nghe hắn nói về cái chết."
"Người chưa từng trải qua đau khổ, luôn cho rằng chết là chuyện rất xa."
"Người đã nhìn quá nhiều người chết, sẽ hiểu… Sống mới là chuyện khó nhất."
Khi ấy ta không hiểu.
"Ta đi."
Lão quản sự gật đầu. Ông lấy trong tay áo ra một tấm thẻ gỗ, trên đó khắc hai chữ Tề Ký.
"Thương đội của ta thuộc Tề Ký."
"Lên Kinh thành. Nếu có người hỏi, cứ nói là người của Tề Ký."
Ta nhận lấy. Đầu ngón tay vuốt nhẹ lên hai chữ ấy. Nó cho ta một lý do đường đường chính chính bước vào Kinh thành.
Qua khỏi cổng thành, điều đầu tiên đập vào mắt ta không phải những lầu son gác tía, mà là người. Người nhiều đến mức tưởng như cả thiên hạ đều chen về một chỗ. Xe ngựa nối tiếp xe ngựa. Tiếng rao hàng, tiếng quát tháo, tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe nghiến trên phiến đá xanh. Hòa vào nhau, ồn ào đến mức khiến người ta sinh ra một loại ảo giác. Rằng nếu bản thân có biến mất giữa biển người này, cũng sẽ chẳng có ai phát hiện.
Ta ngẩng đầu. Bức tường thành vẫn như trong ký ức. Chỉ có ta, không còn là ta của ngày trước.
...
Tề Ký nằm ở phía đông thành. Không quá lớn, nhưng làm ăn rất phát đạt. Lão quản sự dẫn ta vào hậu viện. Nơi ấy có hơn mười gian phòng nhỏ, đều là nơi ở của những người làm công. Ông chỉ vào căn phòng cuối cùng.
“Từ hôm nay, ngươi ở đây.”
Ta gật đầu. Đẩy cửa bước vào. Trong phòng chỉ có một chiếc giường gỗ, một cái bàn và một cái ghế. Ta đặt hành lý đơn sơ xuống, lặng lẽ ngồi lên mép giường.
Chiều hôm ấy, một nha hoàn mang đến hai bộ quần áo vải thô màu xanh thẫm. Là quần áo của người làm trong Tề Ký. Ta thay ra, đứng trước chiếc gương đồng cũ ngắm nhìn một lượt.
Trong gương là khuôn mặt của A Trúc. Làn da hơi rám nhưng vô cùng xinh đẹp. Gương mặt vẫn còn non nớt. Ta nhìn rất lâu rồi đưa tay tháo cây trâm gỗ trên tóc xuống. Ta vuốt nhẹ thân trâm, khẽ đặt vào đáy rương.
Từ hôm nay, sẽ không còn xuất hiện người tên Khương Trúc. Ta cũng không thể tiếp tục dùng tên cũ của mình.
Người chết không nên sống lại. Muốn bước vào Hầu phủ, ta cần một thân phận hoàn toàn mới.
Đúng lúc ấy, bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa.
“Cô nương, lão quản sự cho gọi.”
Ta mở cửa, đi theo tiểu nhị đến thư phòng. Lão quản sự đang xem sổ sách. Thấy ta đến, ông lấy ra một tờ giấy rồi đẩy sang.
"Viết tên đi."
Ta cầm bút. Đầu bút dừng trên giấy rất lâu. Mất một lúc ta mới hạ bút viết xuống hai chữ Tạ Vãn.
Lão quản sự đọc một lần: "Tên hay."
"Về sau trong Tề Ký, ngươi dùng tên này."
Ta gật đầu, thu bút. Mực trên giấy còn chưa khô. Ta nhìn hai chữ ấy, bỗng có chút hoảng hốt. Từ khoảnh khắc này, ta không còn là Khương Trúc, cũng không còn là vị đích nữ Hầu phủ.
Chỉ đơn thuần là Tạ Vãn mà thôi.
Ba ngày sau, ta đã quen với công việc ở Tề Ký. Ban ngày kiểm tra sổ sách, nhập hàng. Đến tối đối chiếu tiền bạc. Lão quản sự càng nhìn càng vừa ý. Ông từng hỏi ta học chữ ở đâu.
Ta chỉ đáp: "Cha từng mời tiên sinh dạy vài năm."
Ông không hỏi thêm. Người thông minh đều hiểu. Có những chuyện, biết càng ít sống càng lâu.
Sáng hôm ấy có một chiếc xe ngựa sang trọng dừng trước cửa Tề Ký. Tiểu nhị chạy vào gọi:
"Chưởng quầy. Phủ Vĩnh An Hầu đến lấy hàng."
Ngòi bút trong tay ta khựng lại, nhưng rất nhanh đã bình tĩnh trở lại. Nhưng chỉ có ta biết lòng bàn tay mình đã lạnh ngắt.
Lão quản sự đứng dậy, quay đầu nhìn ta: "Tạ Vãn. Ngươi mang sổ theo ta."
Ta khẽ cúi đầu: "Vâng."
Không ngờ lại đứng gần xe ngựa của Hầu phủ đến vậy. Trên mui xe, gia huy quen thuộc vẫn còn đó. Ta từng ngồi trên cỗ xe ấy không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần ra ngoài, người hầu luôn đỡ ta lên xuống.
Bây giờ, ta chỉ là một người ghi sổ đứng bên đường. Khoảng cách giữa ta và cỗ xe chỉ ba bước, lại xa hơn cả hai kiếp người.
Quản sự Hầu phủ nhận hàng rất cẩn thận. Đối chiếu từng món. Đến khi ký nhận, ông ta bỗng cau mày.
"Chữ này… Không giống chữ của Lưu chưởng quầy."
Lão quản sự cười: "Là người mới. Biết tính toán sổ sách."
Quản sự Hầu phủ ngẩng đầu. Lần đầu tiên nhìn về phía ta, ánh mắt chỉ dừng lại một thoáng rồi thu về. Một cô nương bình thường, không đáng để hắn ghi nhớ.
Xe ngựa rời đi, lão quản sự nhìn theo một lúc, bỗng nhiên bật cười.
"Ngươi có biết, Hầu phủ là khách lớn nhất của Tề Ký không?"
Ta lắc đầu.
Ông vuốt râu.
"Nửa tháng nữa, Hầu phủ tổ chức yến tiệc mừng thọ cho lão phu nhân. Toàn bộ gấm vóc, rèm trướng đều do Tề Ký chuẩn bị."
"Nếu làm tốt, chúng ta cũng phải sang phủ vài chuyến."
Chỉ vài ngày nữa là đến yến tiệc mừng thọ của lão phu nhân. Tề Ký liên tiếp đưa hàng vào Hầu phủ. Lão quản sự tuổi đã cao, không kham nổi việc chạy đi chạy lại, bèn dẫn ta theo để đối chiếu sổ sách.
Ngày ấy, sau khi giao xong chuyến hàng cuối cùng, quản sự Hầu phủ bỗng giữ lão quản sự lại uống chén trà. Ta ôm sổ đứng ngoài hiên chờ. Một lát sau, lão quản sự bước ra, vẻ mặt có phần khó xử. Ông nhìn ta rất lâu, mới chậm rãi cất lời:
"Hầu Phủ có ý định nhận ngươi vào làm.”
Ta ngẩng đầu.
Ông xua tay: "Đừng vội. Nghe ta nói hết đã."
Thì ra, nha hoàn hầu cận bên cạnh lão phu nhân phạm sai lầm lớn vào mấy hôm trước, bị đuổi khỏi phủ. Yến tiệc mừng thọ lại đang cận kề, trong phủ nhất thời không tìm được người thích hợp. Quản sự Hầu phủ để ý mấy lần, thấy ta biết chữ, biết tính toán sổ sách, nói năng chừng mực, lại làm việc cẩn thận, nên nổi ý muốn để ta vào phủ làm việc. Ở bên cạnh lão phu nhân cần có người kiệm lời lại hiểu chuyện mà làm đâu ra đấy.
Ta im lặng.
Lão quản sự khẽ thở dài: "Ta đã từ chối."
"Hầu phủ nói, chỉ cần ngươi gật đầu, họ sẽ bỏ bạc chuộc lại, còn thêm cho Tề Ký một khoản."
Ông nhìn ta: "Ta không ép. Ngươi cứ tự quyết đi."
Ta rũ mắt. Một lúc lâu vẫn không nói. Đi vào Hầu phủ, đồng nghĩa với việc ngày ngày phải đối mặt với kẻ đã g,i,ế,t mình. Chỉ cần sơ sẩy một lần, sẽ không còn cơ hội sống thêm lần nữa. Nhưng nếu không vào, cả đời cũng chỉ có thể đứng ngoài cánh cửa ấy.
Làm sao tìm được chân tướng? Làm sao đòi lại món nợ xưa?
Ta ngẩng đầu, khẽ đáp: "Ta đồng ý."
...
Ba ngày sau.
Khế ước được giao đến. Lão quản sự đích thân tiễn ta ra cửa. Ông đưa cho ta một túi bạc.
"Là tiền mua đứt. Vốn dĩ nên thuộc về ngươi."
Ta lắc đầu” "Những ngày qua, nếu không có Tề Ký cưu mang, ta đã chẳng có chốn dung thân."
"Quản sự cứ giữ lấy đi."
Ông nhìn ta thật lâu, cuối cùng chỉ nói một câu.
"Vào Hầu phủ, bớt nói, nghe nhiều, làm nhiều.”
"Cũng bớt tin người."
Ta mỉm cười: "Ta nhớ rồi."
Hôm ấy, ta thay bộ xiêm y màu xanh nhạt của nha hoàn Hầu phủ, theo ma ma bước qua cánh cửa rộng lớn. Ma ma dẫn ta đến Trường Thọ viện. Đó là nơi lão phu nhân tĩnh dưỡng. Vừa bước qua cổng viện, một mùi đàn hương quen thuộc đã phả vào mặt. Mọi thứ nơi đây gần như không đổi. Ngay cả chiếc chum sứ dưới gốc quế cũng vẫn đặt ở vị trí cũ.
Chỉ có điều, ngày trước ta đến đây, lão phu nhân luôn cười gọi:
"A Dao đến rồi à?"
Còn hôm nay ma ma chỉ lạnh nhạt nói: "Đứng đây đợi.”
Ta khẽ đáp: "Vâng."
Không lâu sau, có một nha hoàn vội vã chạy ra: "Ma ma. Lão phu nhân tỉnh rồi."
Ma ma quay sang nhìn ta: "Vào đi. Chú ý cử chỉ hành vi, đừng nhìn ngang nhìn dọc.”
Ta cúi người: "Đã rõ."
Trong phòng rất yên tĩnh. Lão phu nhân đang tựa người trên giường mềm. Tóc đã bạc gần hết. So với ba năm trước, bà gầy đi trông thấy. Trong lòng ta chợt nghẹn lại.
"Người mới đến à?" Giọng bà rất khẽ.
Ma ma đáp: "Phải thưa lão phu nhân. Quản sự tìm được người mới, nói là đưa tới xem ý lão phu nhân thế nào."
“Quản sự nói nàng biết chữ, cũng có thể tính toán sổ sách.”
Lão phu nhân hơi ngạc nhiên, sau đó khẽ gật đầu.
"Biết pha trà không?"
Ta tiến lên phía trước hai bước: "Nô tỳ có biết đôi chút."
"Thử xem."
Ta nhận lấy ấm trà, động tác vẫn như năm ấy. Nước đầu tráng chén. Nước thứ hai mới rót. Bảy phần đầy, không hơn không kém. Đó là thói quen của lão phu nhân. Ngày trước, chính bà từng cười bảo ta.
"Rót đầy quá, là ép người ta. Bảy phần là vừa."
Lão phu nhân nâng chén khẽ nhấp một ngụm. Bàn tay bỗng khựng lại. Bà nhìn chén trà rất lâu rồi ngẩng đầu nhìn ta.
“Trước đây có ai dạy ngươi không?”
Tim ta chợt căng cứng. Ta lập tức cúi đầu.
"Hồi nhỏ nô tỳ từng hầu hạ tổ mẫu trong nhà. Bà ấy đều uống như vậy."
Lão phu nhân im lặng. Một lúc sau mới khẽ cười.
"Khéo thật."
"Chắc hẳn tổ mẫu rất yêu thương ngươi."
Ta ngẩn người không đáp, chỉ lặng lẽ lui sang một bên. Không ai biết. Suốt cả buổi, ta chưa từng dám ngẩng đầu nhìn thẳng vào bà. Bởi chỉ cần nhìn thêm một lần, ta sợ mình sẽ không giữ nổi vẻ bình tĩnh nữa.
Chiều hôm ấy, Thế tử đến Trường Thọ viện thỉnh an. Các nha hoàn trong viện đồng loạt quỳ xuống. Ta cũng lùi về cuối hàng cúi đầu. Tiếng bước chân dừng trước giường lão phu nhân.
"Tổ mẫu."
Hắn nhận lấy chén thuốc từ tay nha hoàn, đích thân đưa tới. Lão phu nhân mỉm cười.
"Khó cho con còn nhớ đến bà già này."
"Sao cháu trai dám quên."
Giọng nói ấy vẫn ôn hòa như trước.
Lão phu nhân uống thuốc xong, bỗng nhìn sang ta: “Nha đầu, lại đây."
Ta cúi đầu bước tới, nhận lấy chén thuốc đã cạn. Ngay khoảnh khắc xoay người, ánh mắt ta và hắn vô tình chạm nhau. Chỉ một thoáng, rất nhanh hắn đã rời mắt.
"Tên gì?" Lão phu nhân hỏi.
"Nô tỳ Tạ Vãn."
Bà gật đầu: "Ở lại Trường Thọ viện đi. Về sau hầu hạ bên cạnh ta."
Ma ma hơi sửng sốt: "Lão phu nhân… Nha đầu này mới vào phủ. Cần học thêm quy củ."
Lão phu nhân chỉ khoát tay: "Không sao. Nhìn việc mà làm. Ta thấy thuận mắt."
Chỉ một câu đã quyết định chỗ đứng của ta trong Hầu phủ. Ta quỳ xuống tạ ơn, khóe mắt lại vô thức nhìn về phía người kia. Hắn vẫn ngồi bên cạnh lão phu nhân. Từ đầu đến cuối chưa từng nhìn ta thêm lần nào.
Ở Trường Thọ viện được ba ngày. Ta biết bắt đầu đọc sách cho lão phu nhân nghe. Mỗi chiều sau khi dùng thuốc xong, lão phu nhân đều muốn nghe người đọc vài trang. Mấy nha hoàn trong viện phần lớn không biết chữ. Mà biết chữ lại đọc không tròn vành rõ tiếng. Ma ma thử đến mấy người. Cuối cùng vẫn gọi ta.
Ta mở quyển sách, bắt đầu đọc chậm rãi. Lão phu nhân nhắm mắt nghe. Chưa đầy một khắc đã ngủ thiếp đi. Ma ma nhẹ nhàng đắp chăn cho bà rồi quay sang nhìn ta. Ánh mắt dịu đi đôi chút.
"Nha đầu."
"Ở lại săn sóc lão phu nhân. Đừng đi đâu cả."
Ta cúi đầu đáp: “Nô tỳ đã rõ.”
Ta ở lại Hầu phủ được nửa tháng, hầu hết thời gian đều là chăm sóc lão phu nhân, ở bên cạnh khiến người vui vẻ. Nhưng chính những việc nhỏ nhặt ấy lại khiến người bắt đầu nhớ đến ta.
Một ngày trời trở lạnh. Ta lặng lẽ đặt thêm một chiếc đệm dưới chân lão phu nhân rồi quỳ xuống bóp chân cho bà. Lão phu nhân nhìn thấy thì sững người.
"Ngươi biết ta đau chân khi trời lạnh?"
Ta hơi khựng lại rồi đáp: "Nô tỳ thấy hôm qua người xoa chân nhiều lần."
Bà nhìn ta. Không nói gì.
Về sau, ta thêu cho lão phu nhân túi hương nhỏ xinh xắn, bên ngoài thêu một khóm trúc xanh. Lúc nhận được món quà ấy, bà nhìn đi nhìn lại từng đường kim mũi chỉ với vẻ hoảng hốt, một lúc lâu sau mới tấc tắc khen ngợi.
Một hôm nọ lão phu nhân ban thưởng bánh trái cho các nha hoàn trong phủ. Đến lượt ta, ma ma tiện miệng hỏi ta thích bánh gì. Ta trả lời bánh hoa quế ít ngọt. Lúc này lão phu nhân vô thức mà rằng:
"Sinh thời, Uyển Nhi cũng có sở thích này. Con bé thích ăn bánh hoa quế ít ngọt, thích ngắm trúc xanh, pha trà rất giỏi, cầm kỳ thi họa không gì là không tốt…”
"Nếu còn sống… hẳn là lớn hơn nha đầu này vài tuổi.”
Mỗi một câu đều khiến sắc mặt của người trong phủ thay đổi. Mà phản ứng mạnh mẽ hơn cả là Hầu phu nhân. Ta nhìn thấy sự bình tĩnh hoàn toàn biến mất trên khuôn mặt bà ta.