Chương 3
C3
Chương 3:
Hắn đứng phắt dậy, bước đến sát bên cạnh nàng, hai tay chống xuống bàn, giọng nói trầm thấp nhưng đầy áp lực, như muốn đem toàn bộ sự tàn khốc của thế giới ngoài kia đổ lên đầu nàng.
“Nếu lúc đó ta không ký, người bị định tội ‘phỉ báng triều đình khiến lòng dân dao động’ sẽ là ta, và toàn bộ những quan viên trẻ tuổi đồng lòng năm đó sẽ bị đày ra biên thùy, đầu rơi máu chảy. Ta còn một người mẹ già yếu ở quê nhà cần phụng dưỡng, ta đã mất mười năm đèn sách gian khổ của bản thân, ta còn cả một gia tộc nhà họ Chu đang nhìn vào ta để ngẩng đầu lên với đời! Cầm Thanh, nàng sống ở hậu viện phủ Hộ Bộ Thị Lang, nàng được ta bảo vệ quá tốt, nàng không bao giờ hiểu được sự tàn khốc của chốn quan trường. Muốn sống sót trong cái triều đình này, điều đầu tiên phải học là cách im lặng! Thuở trẻ, ai mà không có hoài bão, ai mà không muốn thay đổi thế gian này? Nhưng sau đó ta phát hiện ra, muốn leo lên vị trí đủ cao để thay đổi mọi thứ, trước hết phải học cách sống sót qua bộ máy ấy đã. Mà muốn sống sót thì phải học cách cúi đầu, học cách nhắm mắt trước những thứ mà bản thân không muốn thấy!”
“Cho nên ngài đã chọn cách nhắm mắt trước cái chết của hàng vạn bách tính sao?”
Hạ Cầm Thanh ngước nhìn hắn, nước mắt nàng đã ngân ngấn nơi khóe mắt nhưng nàng cố chấp không để nó rơi xuống.
“Ngài tự lừa dối bản thân mình rằng: Đợi ta leo lên vị trí cao hơn, có quyền lực tuyệt đối rồi ta sẽ sửa lại sai lầm này, đúng không?”
Chu Thừa Lân bỗng khựng lại, toàn thân hắn khẽ run lên. Câu nói ấy của nàng như một lưỡi dao bén nhọn, đâm thẳng vào vết thương sâu kín nhất, dơ bẩn nhất trong lòng hắn. Đúng vậy, mười năm qua, mỗi lần hắn phải thỏa hiệp với sĩ tộc, mỗi lần hắn phải ký tên vào một công văn bất công, hắn đều dùng lý do cao thượng ấy để tự an ủi lương tâm đang thối rữa của mình. Nhưng đến ngày hôm nay, khi hắn đã ngồi đến chức vị Hộ Bộ Thị Lang, hắn lại kinh hoàng phát hiện ra hệ thống quyền lực ấy lớn đến mức quyền lực của một vị Hộ Bộ Thị Lang như hắn cũng chỉ là một bánh răng nhỏ bị cuốn đi. Hắn chưa kịp sửa đổi quá khứ thì lương tâm của hắn đã bị mài mòn thành một khối đá lạnh từ lúc nào.
“Bây giờ ta là Hộ Bộ Thị Lang, ta có thể cho nàng vinh hoa phú quý, có thể bảo vệ nàng an toàn một đời.”
Chu Thừa Lân nắm lấy bờ vai mảnh dẻ của nàng, giọng nói mang theo sự cầu xin hiếm hoi.
“Nhưng nếu nàng cố chấp đào bới vụ án năm Vĩnh Gia thứ mười hai này lên, ngay cả ta cũng không thể giữ được mạng cho nàng. Hoàng thượng không bao giờ muốn nhìn thấy vết nhơ trong quá khứ trị vì của mình bị lật lại. Nghe lời ta, dừng lại đi, coi như vì bản thân nàng.”
Hạ Cầm Thanh nhẹ nhàng nhưng vô cùng kiên quyết gạt hai bàn tay của hắn ra khỏi vai mình. Nàng nhìn người đàn ông mà nàng từng dùng cả thanh xuân, từng dùng tất cả sự kính trọng để yêu thương. Hắn vẫn đứng ở đỉnh cao của danh vọng, vẫn mặc bộ triều phục màu tím lộng lẫy, nhưng trong mắt nàng lúc này, trông hắn thật nhỏ bé, đáng thương và cô độc. Hắn bị chính nỗi sợ hãi và sự tỉnh táo, lý trí của mình giam cầm trong một nhà tù không lối thoát.
“Thừa Lân, ngày rời khỏi phủ, ngài nói ta không hợp với nơi đó, vì nơi đó phức tạp.”
Hạ Cầm Thanh khẽ nói, giọng nàng bình thản đến lạ lùng.
“Bây giờ ta mới hiểu, không phải phủ Hộ Bộ Thị Lang ấy phức tạp, mà là vì nơi đó bắt con người ta phải giả vờ như những người đã chết chưa từng tồn tại trên đời này. Ta chỉ là một người sửa sách cũ, ta không làm được điều cao siêu ấy. Ta không muốn những người chết rồi mà như chưa từng tồn tại.”
Chu Thừa Lân nhìn nàng một lúc lâu, đôi mắt hắn xẹt qua biết bao cảm xúc xáo trộn: đau đớn, bất lực, và cả sự ghen tị sâu kín với sự tự do, kiên định của nàng. Cuối cùng, hắn buông thõng hai tay, xoay người bước ra cửa. Trước khi bước ra ngoài màn đêm đầy tuyết trắng, hắn để lại một câu nói lạnh lùng nhưng phô bày hiện thực rành rành trước mắt.
“Cầm Thanh, nàng quá ngây thơ rồi. Sự thật… không nuôi sống được ai ở Kinh thành này cả.” ......
Sau cuộc đối thoại căng thẳng với Chu Thừa Lân, Hạ Cầm Thanh không hề dừng bước. Ngược lại, những lời nói của hắn càng khiến nàng nhận ra thời gian của mình không còn nhiều. Khi một vị Hộ Bộ Thị Lang đã đích thân đến cảnh cáo, điều đó có nghĩa là guồng quay của triều đình đang chuẩn bị có những động thái tàn khốc để xóa sổ những nhân chứng cuối cùng.
Nàng quyết định hành động quyết liệt hơn. Nàng tìm gặp Thẩm Yến Thanh, và hai người đưa ra một quyết định điên rồ, rời khỏi kinh thành Trường An phồn hoa, đi ngược lên phía Bắc, hướng thẳng đến huyện Thanh Bình, phủ Hà Bắc, nơi chín năm trước từng là tâm điểm của trận đại hạn hán, hay nói đúng hơn, là nấm mồ chung của hàng vạn dân nghèo.
Chuyến đi này không có ngựa xe rầm rộ, không có hộ vệ đi kèm như những chuyến tuần du của quan lại. Chỉ có hai kẻ yếu thế, một người phụ nữ yếu đuối vừa ly hôn và một vị văn sĩ mang bệnh nặng trong người. Trên lưng họ đeo hai cái gùi tre nặng trịch đựng đầy giấy trắng, nghiên mực và lương khô thô sơ. Họ đi qua những con đường mòn hoang vu, gió lạnh phương Bắc thổi rát mặt, vạt áo bông thô của họ bị gai cào rách từng vệt dài nham nhở.
Khi đặt chân đến địa giới huyện Thanh Bình, đập vào mắt Hạ Cầm Thanh không phải là cảnh tượng ruộng đồng trù phú sau chín năm phục hồi như những gì Hộ bộ báo cáo, mà là một sự hoang tàn, tiêu điều đến rợn người.
Nhiều thôn làng nằm dọc theo các triền đồi hoàn toàn trống không, những mái nhà tranh sụp đổ hoàn toàn, cỏ dại mọc cao quá đầu người, che khuất cả lối đi. Nơi đây không hề có dấu vết của một trận dịch bệnh tàn phá, vì nếu là dịch bệnh, nhà cửa quần áo của người chết sẽ bị thiêu hủy để tránh lây lan. Ở đây, mọi thứ vẫn nguyên vẹn, chỉ có con người là biến mất. Ngoài đồng hoang, dọc theo các con mương cạn trơ đáy, có vô số những hố chôn tập thể vô danh nằm rải rác khắp mọi nơi. Những tấm bia mộ bằng gỗ cắm vội năm xưa giờ đây đã mục nát, bị mối mọt ăn mòn, không còn sót lại bất kỳ một dòng chữ nào. Những con người nằm dưới lòng đất kia, không một ai biết họ tên gì, bao nhiêu tuổi, vì sao lại chết.
Họ đi sâu vào trong một thung lũng hẻo lánh, tìm đến một ngôi làng nhỏ chỉ còn sót lại chưa đầy năm hộ dân sống tiêu điều. Trong một căn nhà đất rách nát, tường nứt toác hứng từng luồng gió lùa, họ gặp một bà lão mù cả hai mắt, tai đã nghễnh ngãng, toàn thân gầy gò như một bộ xương khô khoác áo vải thô, đang ngồi co quắp bên bếp lửa tàn không còn một chút hơi ấm.
Thẩm Yến Thanh quỳ xuống nền đất đầy bụi bặm bên cạnh bà lão, ghé sát tai bà, dịu dàng hỏi về những chuyện đã xảy ra vào mùa đông năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Khi nghe thấy mấy chữ “Năm Vĩnh Gia thứ mười hai”, cơ thể già nua của bà lão bỗng nhiên run lên bần bật như gặp phải một cơn ác mộng kinh hoàng nhất đời. Đôi bàn tay khô gầy, chằng chịt những đường gân xanh của bà quờ quạng điên cuồng trong không khí, miệng lắp bắp những âm thanh vô nghĩa.
Bà lão sụt sịt khóc, nước mắt chảy qua những rãnh nhăn sâu hoắm trên khuôn mặt mù lòa. Bà run rẩy bò vào trong buồng trong, dùng đôi bàn tay cào bới dưới đáy của một hũ gạo cũ kỹ đã trống rỗng từ lâu, lôi ra một bọc vải thô rách nát. Bọc vải ấy được bọc bằng rất nhiều lớp lá chuối khô đã úa vàng, buộc chặt bằng dây đay để chống ẩm mốc. Khi Hạ Cầm Thanh cẩn thận đỡ lấy và mở từng lớp vải ra, bên trong hiện ra một cuốn sổ chép tay bằng loại giấy bản thô ráp, rẻ tiền nhất mà nông dân thường dùng. Mực viết không phải là mực thỏi quý giá, mà là thứ mực tự chế từ than bếp giã nhỏ trộn với nước lòng trắng trứng.
Trên những trang giấy thô ráp ấy là những cái tên được viết dày đặc.
“Đây là… cái gì vậy bà?” Hạ Cầm Thanh nghẹn ngào hỏi, lồng ngực nàng đau thắt lại.
“Tên… tên của tụi nó, tên của cả cái làng này.”
Bà lão khóc không ra tiếng, giọng nói khàn đặc như tiếng lá khô cọ vào nhau trong gió chướng.
“Năm đó, thiên tai đến, không có một hạt gạo cứu tế nào về đến làng. Người chết nằm đầy đường. Rồi quan trên từ Kinh thành dẫn binh lính tới, bọn họ tịch thu hết sạch sổ hộ tịch của làng, đốt ngay trước đình làng. Bọn họ nói trên đời này không có ai chết đói hết, ai dám mở miệng nói hai chữ ‘chết đói’ là phạm tội phỉ báng triều đình, làm loạn, sẽ bị chém đầu ngay tại chỗ. Trước khi con trai ta nhắm nghiền mắt vì đói, nó đã dùng than bếp làm mực, cố sống cố chết ghi lại tên của từng người trong làng đã nằm xuống. Nó đưa cho ta, bảo rằng: ‘Mẹ phải giữ lấy, giấu cho kỹ, đừng để bọn họ xóa mất chúng con, đừng để bọn họ quên…’.”
Hạ Cầm Thanh lật mở từng trang giấy thô ráp. Chữ viết trong sổ rất nguệch ngoạc, nét chữ run rẩy, sai chính tả rất nhiều, chứng tỏ người con trai của bà lão không được học hành đến nơi đến chốn. Nhưng mỗi một cái tên đều được ghi chép kèm theo tuổi tác, ngày mất và vị trí chôn cất cụ thể ngoài đồng hoang.
“Trương Đại, hai mươi mốt tuổi, chết đói bên bờ sông cạn.”
“Nguỵ thị, ba mươi tuổi, chết đói cùng đứa con ba tháng tuổi vẫn đang ngậm bầu vú khô trong tay.”
“Lý Mộc Nha, bốn tuổi, chết vì ăn quá nhiều đất quan âm…”
Trang giấy thấm đẫm những vết dầu mỡ, vết mồ hôi và cả những vệt máu khô cũ kỹ từ chín năm trước. Số lượng cái tên trong cuốn sổ của một ngôi làng nhỏ này đã lên đến hơn hai trăm con người. Mà trên khắp cõi Hà Bắc rộng lớn này, có biết bao nhiêu ngôi làng, bao nhiêu huyện lỵ đã bị xóa sổ giống như nơi đây?
Hạ Cầm Thanh chợt nhận ra một sự thật kinh hoàng và đáng sợ nhất về quyền lực. Quyền lực tối cao không phải là thứ có thể dễ dàng tước đoạt mạng sống của con người bằng gươm đao. Điều đáng sợ nhất là nó có thể bạo ngược xóa sạch hoàn toàn dấu vết tồn tại của họ sau khi họ chết. Những con người này đã từng sinh ra trên đời, đã từng có tên gọi, đã từng đau đớn, tuyệt vọng và khóc lóc. Nhưng trong dòng chảy vĩ đại của quốc sử triều đình, họ chỉ là một con số 0 tròn trĩnh, hoặc là một cái cớ “dịch bệnh” đầy tính nhân đạo để giữ sạch thanh danh cho các bậc vương hầu.
“Thẩm đại nhân.” Hạ Cầm Thanh nhìn Thẩm Yến Thanh, nước mắt nàng rơi lã chã, thấm ướt cả những nét chữ được viết bằng than bếp thô sơ.
“Chúng ta phải mang cuốn sổ này về Kinh thành.”
Thẩm Yến Thanh gật đầu, sắc mặt hắn xanh mét, hơi thở đứt quãng vì giá lạnh phương Bắc đang gặm nhấm buồng phổi bệnh tật, nhưng ánh mắt hắn lại kiên định, sáng rực lên một cách lạ lùng.
“Mang về Trường An. Chúng ta sẽ chép lại toàn bộ những cái tên này vào bản thảo chép tay của chúng ta. Lịch sử không được phép quên họ.”
Trong suốt chuyến hành trình gian khổ trở về Kinh thành, họ gặp không ít hiểm nguy. Có những đêm, khi đi qua các trạm kiểm soát nghiêm ngặt của quan phủ dọc đường, binh lính lục soát hành lý rất gắt gao. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi chiếc gùi chứa cuốn sổ sắp bị phát hiện, một vị tướng lĩnh cấp cao của trạm kiểm soát lại đột ngột xuất hiện. Vị tướng ấy nhìn Hạ Cầm Thanh bằng một ánh mắt vô cùng phức tạp, thở dài một tiếng rồi vẫy tay ra lệnh cho binh lính cho họ đi qua mà không cần kiểm tra thêm.
Ban đầu Hạ Cầm Thanh ngỡ là may mắn, nhưng đến một đêm nghỉ chân tại một ngôi miếu hoang, khi sắp xếp lại đồ đạc trong gùi, nàng vô tình tìm thấy ở góc sâu nhất một chiếc thẻ bài bằng ngọc thạch màu đen, trên đó khắc một chữ “Chu” rất nhỏ nhưng uy nghiêm, đó chính là thẻ bài của phủ Hộ Bộ Thị Lang. Chiếc thẻ bài này đã được ai đó bí mật nhét vào gùi của nàng từ trước khi nàng rời khỏi Trường An.
Chu Thừa Lân vẫn luôn dõi theo nàng. Hắn sợ hãi sự thật, hắn không dám tự tay lật lại vụ án vì tương lai của gia tộc và bản thân, hắn chọn cách đứng trong hệ thống để bảo vệ vương quyền. Nhưng từ sâu trong bóng tối, hắn đã dùng thứ quyền lực tối cao, tàn bạo của mình để âm thầm dọn đường, bảo vệ mạng sống cho nàng, giống như một kẻ tội đồ đang cố gắng nhặt nhạnh chút lương tâm còn sót lại để chuộc lỗi với người nữ tử hắn yêu. Hắn là một kẻ hèn nhát nhưng tỉnh táo đứng trong hệ thống, hắn thà để bản thân mình dơ bẩn, chứ không muốn nhìn thấy người phụ nữ duy nhất dám sống thật với lòng mình phải phơi thây nơi đồng hoang ngoài kia.
...
Mùa xuân năm Vĩnh Gia thứ hai mươi mốt, Kinh thành Trường An đón nhận một sự kiện trọng đại nhất trong vòng mười năm trở lại đây. Triều đình chính thức khởi công biên soạn bộ “Đại Đường Vĩnh Gia Thực Lục” - bộ quốc sử chính thức, tối cao ghi lại toàn bộ những sự kiện, công trạng và biến cố trong suốt thời kỳ trị vì của Hoàng đế đương triều.
Đối với những người làm việc trong hệ thống như Thẩm Yến Thanh, họ đều hiểu rõ luật lệ đáng sợ sau khi bộ thực lục này hoàn thành. Một khi bộ quốc sử mới được thông qua, được Hoàng đế ngự bút phê chuẩn và khắc vào bản gỗ để in ấn ban bố khắp thiên hạ, thì tất cả các hồ sơ gốc, ghi chép tạm thời, bản thảo địa chí và tài liệu tham khảo cũ ở tất cả các nha môn, bao gồm cả thư khố bí mật của Hàn Lâm Viện sẽ bị tịch thu hoàn toàn và đem đi thiêu hủy một cách hợp pháp. Lý do là để “tránh làm nhiễu loạn chính thống, không để những thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến nhận thức của đời sau”.
Sự thật về nạn đói Hà Bắc năm xưa sẽ bị đóng đinh vĩnh viễn dưới lớp mực vàng son, dưới những lời ca tụng vĩ đại của hoàng gia. Sự thật sẽ mãi mãi biến mất một cách hợp pháp khỏi cõi đời này.
Thẩm Yến Thanh hớt hải chạy đến Khô Mộc Đường vào một đêm muộn, mang theo một tin tức động trời.
“Hoàng đế đã hạ chỉ, người được giao trọng trách Tổng quản Biên soạn bộ thực lục lần này không ai khác chính là Chu Thị Lang. Tất cả những hồ sơ gốc, những tờ giấy Thanh Đằng còn sót lại của năm Vĩnh Gia thứ mười hai đã được binh lính Hộ bộ gom sạch sẽ, đưa về mật thất của Sử quán.”
Đêm đó, giữa lúc ngoài phố Kinh kỳ đang xôn xao treo đèn kết hoa chuẩn bị cho ngày đại lễ công bố bộ quốc sử, Chu Thừa Lân lại xuất hiện một lần nữa tại tiệm sửa sách Khô Mộc Đường. Lần này, hắn không đi chiếc xe ngựa sang trọng có binh lính bao quanh, mà chỉ mặc một bộ thường phục bằng vải thô màu xám tro đơn giản, đứng im lặng dưới ánh đèn dầu leo lét, cô độc của tiệm sách.
“Hoàng đế biết tất cả mọi chuyện. Từ chín năm trước, ông ấy đã biết rõ mọi chuyện rồi.”
Chu Thừa Lân nhìn Hạ Cầm Thanh, giọng nói của hắn trống rỗng, khàn đặc như một người vừa bước ra từ một trận đại chiến sinh tử.
Hạ Cầm Thanh ngước đầu lên nhìn hắn, ánh mắt nàng tĩnh lặng nhưng lạnh băng.
“Cả chuyện năm đó không hề có dịch bệnh, mà là hàng vạn bách tính đã ăn đất quan âm rồi chết dọc đường? Hoàng đế cũng biết chuyện này sao?”
“Phải, ông ấy biết rất rõ.”
Chu Thừa Lân cười, nụ cười đầy sự chát đắng và tự giễu của một kẻ đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng nhận ra mình cũng chỉ là một trò đùa.
“Năm đó, biên cương phía Tây đang có chiến tranh khốc liệt với Thổ Phạn, quân đội triều đình cần hàng vạn thạch lương thực mỗi tháng. Quốc khố căng thẳng đến mức cực hạn, lòng dân ở Kinh kỳ và các vùng phụ cận đang dao động dữ dội. Nếu lúc đó triều đình đứng ra thừa nhận Hà Bắc đang có nạn đói lớn, thừa nhận các kho lương thực dự trữ của quốc gia đã bị quan lại địa phương cấu kết với gian thương ăn chặn, tham ô đến mức trống rỗng… thì dân chúng cả nước sẽ bạo loạn, lòng quân ở tiền tuyến sẽ sụp đổ, quân Thổ Phạn sẽ tràn vào Kinh thành, nước sẽ mất, nhà sẽ tan. Hoàng đế đã chọn cách giấu nhẹm sự thật, chọn cách hy sinh vài vạn dân nghèo ở Hà Bắc để đổi lấy sự ổn định của cả một giang sơn. Cầm Thanh, đây không còn là chuyện đúng sai, thiện ác đơn giản của một vài vị quan tham ô nữa. Đây là… lý tính lạnh lùng của một quốc gia.”
Hắn bước đến gần nàng hơn, hai bàn tay áp mạnh xuống cạnh bàn gỗ, nhìn sâu vào đôi mắt trong trẻo của nàng, giọng nói như nghẹn lại ở cổ họng.
“Nếu bây giờ cho ta quay lại năm hai mươi ba tuổi đó, đứng trước sự lựa chọn giữa một bên là nói ra sự thật để rồi cả gia tộc nhà họ Chu bị kéo xuống, lòng dân đại loạn, giang sơn sụp đổ; và một bên là im lặng ký vào bản báo cáo giả để sống sót, để leo lên vị trí ngày hôm nay… Cầm Thanh, ta nói thật cho nàng biết, ta vẫn sẽ chọn cách ký tên. Ta không thể làm anh hùng, ta phải làm một vị Hộ Bộ Thị Lang giữ vững đại cục này.”
Hạ Cầm Thanh chết lặng, nàng nhìn người đàn ông trước mặt, cảm thấy khoảng cách giữa hai người giờ đây không chỉ là một bức tường cao vút của phủ Hộ Bộ Thị Lang, mà là cả một con sông dài vô tận được lấp bằng xương máu của những con người vô danh và những lý lẽ lạnh lùng, tàn nhẫn của vương quyền.
“Ta biết.” Giọng nàng nhỏ như tiếng muỗi kêu, nhưng kiên định vô cùng.
“Ngài là Hộ Bộ Thị Lang đương triều. Ngài phải nghĩ cho thiên hạ vĩ đại của Hoàng đế. Còn ta, ta chỉ là một người sửa sách cũ, ta chỉ nhìn thấy những cái tên được viết bằng than bếp đang mờ dần.”
“Nhưng…” Chu Thừa Lân bỗng nhiên hạ giọng xuống thấp nhất, đôi bàn tay hắn run lên nhè nhẹ, một sự dao động lớn nhất trong cuộc đời làm quan của hắn lộ ra. Hắn lấy ra một chùm chìa khóa bằng đồng đen cổ kính, thô ráp từ trong tay áo rộng, nhẹ nhàng đặt lên chiếc bàn gỗ trước mặt nàng.
“Lần này… ta không muốn nàng cũng phải học cách im lặng và cúi đầu giống như ta năm xưa nữa.”
Hạ Cầm Thanh kinh ngạc nhìn chùm chìa khóa đồng đen: “Đây là…?”
“Chìa khóa cửa ngách dẫn thẳng vào mật thất của Sử quán.”
Chu Thừa Lân quay lưng đi, không dám nhìn vào chùm chìa khóa ấy nữa, như thể nếu nhìn thêm một giây, sự tỉnh táo của một vị Hộ Bộ Thị Lang sẽ bắt hắn phải thu hồi nó lại ngay tức khắc.
“Ba ngày nữa, sau khi ta đích thân kiểm tra xong bản thảo quốc sử cuối cùng, Sử quán sẽ ra lệnh niêm phong toàn bộ thư khố để chuẩn bị thiêu hủy toàn bộ tài liệu tham khảo cũ vào sáng hôm sau. Đêm đó, lực lượng canh gác ở cửa ngách sẽ lỏng lẻo nhất, vì ta đã điều động một nửa binh lính đi tuần tra ở vòng ngoài.”
Hắn dừng lại ở ngưỡng cửa, bóng lưng cao lớn đứng giữa ranh giới của ánh đèn trong tiệm và bóng tối của gió tuyết ngoài kia, giọng nói trầm buồn vang lên:
“Cầm Thanh, ta là người của hệ thống này, ta nhận bổng lộc của triều đình, ta phải cùng sống chết với những lời nói dối ấy để giữ vững giang sơn. Ta không thể giúp nàng chép lại sử sách thật, ta cũng không thể đứng ra làm chứng trước thiên hạ. Nhưng nàng… nàng là người sửa sách. Hãy đi vá lại những gì mà ta và triều đình này đã xé bỏ.”
Nói xong, hắn dứt khoát bước vào màn đêm đầy gió tuyết, không một lần quay đầu lại. Hạ Cầm Thanh nhìn chùm chìa khóa đồng đen trên bàn, nàng hiểu rằng, đây là món quà định mệnh, là lời thú tội và cũng là sự tôn trọng lớn nhất mà Chu Thừa Lân dành cho nàng. Hắn dùng chính tương lai, sinh mạng của mình để đặt cược vào một lần lựa chọn của nàng.