Chương 2
C2
Chương 2:
Nằm sâu trong một con ngõ nhỏ quanh co thông ra phía sau chợ Tây của Trường An, có một căn nhà hai lầu cũ kỹ, mái ngói đã mọc đầy rêu xanh. Ba tháng sau khi ly hôn, trước cửa căn nhà này xuất hiện một bảng hiệu bằng gỗ bách đơn sơ, trên đó khắc ba chữ bằng nét bút thanh mảnh nhưng cứng cỏi: “Khô Mộc Đường”.
Ban đầu người dân quanh ngõ thấy một phụ nhân trẻ tuổi, tuy ăn mặc giản dị bằng vải thô màu xám tro nhưng cử chỉ hành vi đoan trang, lời nói dịu dàng đến thuê căn nhà này thì ai nấy đều tò mò tột độ. Đến khi biết nàng mở tiệm để làm nghề sửa sách cũ, những lời bàn tán, chế giễu lại rộ lên không ngớt.
Ở cái đất Kinh kỳ phồn hoa đô hội này, nghề sửa sách bị coi là một trong những nghề hèn mọn và tẻ nhạt nhất. Suốt ngày phải giam mình trong căn phòng tối, ngửi mùi hồ dán nồng hắc pha lẫn với mùi giấy mục mốc meo bao nhiêu năm, mười đầu ngón tay lúc nào cũng dính đầy mực đen và nhựa cây xám xịt. Nghề này kiếm chẳng được bao nhiêu tiền, lại đòi hỏi sự kiên nhẫn vô hạn, vốn chỉ dành cho những lão già nghèo khổ không còn sức lao động, hoàn toàn không thích hợp cho một nữ tử trẻ tuổi. Nhưng Hạ Cầm Thanh bỏ ngoài tai tất cả những lời đàm tiếu ấy.
Từ nhỏ nàng đã đi theo phụ thân là một vị tú tài nghèo cả đời thi không đỗ, chỉ biết làm bạn với nghiên bút, học được thuật đóng sách và phục chế tranh chữ cổ. Đối với nàng, mỗi cuốn sách cũ không phải là một xấp giấy vô tri, mà là một sinh mệnh đã từng sống, từng chứa đựng tâm tư của một con người, một thời đại. Nàng đặt tên tiệm là “Khô Mộc”, lấy ý từ câu “Khô mộc phùng xuân”, khúc gỗ khô gặp mùa xuân lại đâm chồi nảy lộc. Nàng muốn dùng đôi bàn tay của mình để đem những trang giấy đã chết hồi sinh trở lại một lần nữa.
Căn tiệm nhỏ hẹp của nàng, qua thời gian, bỗng chốc trở thành một lăng kính thu nhỏ của nhân sinh chốn Kinh kỳ.
Có gã thư sinh nghèo kiết xác tên là Lưu Kiến, chiếc áo trường bào màu xanh đã chằng chịt những vết vá, mang đến một cuốn Luận Ngữ rách tả tơi, các trang sách đã mủn ra như xơ mướp, vừa gãi đầu ngượng ngùng vừa nói:
“Hạ nương tử, tháng sau ta phải tham gia kỳ thi Hương rồi. Cuốn sách này là di vật duy nhất của tổ phụ để lại, cô xem có thể vá lại để ta đọc nốt ba chương cuối được không? Tiền công… ta xin khất đến sau khi bảng vàng đề tên.”
Hạ Cầm Thanh không hề ghét bỏ, nàng mỉm cười nhận lời, mười đầu ngón tay thoăn thoắt lựa chọn loại giấy xuyến mỏng như cánh ve để nối lại từng nét chữ bị mờ.
Lại có một góa phụ trẻ ở đầu ngõ, hai mắt sưng húp vì khóc, bế đứa con nhỏ chưa đầy tuổi, mang đến một quyển gia phả mỏng dính bị cháy xém mất một nửa do một trận hỏa hoạn. Nàng vừa sụt sịt vừa nói:
“Nhà chồng ta đều chết trận ở biên thùy năm ngoái cả rồi, trong nhà chỉ còn lại cái tên của họ trong cuốn gia phả này để đứa nhỏ lớn lên biết cội nguồn, biết cha nó là ai. Xin nương tử rủ lòng thương, cứu lấy nó.”
Hạ Cầm Thanh im lặng gật đầu, nàng đón lấy cuốn sách bị cháy, tỉ mẩn dùng những sợi tơ lụa nhuộm nước trà cổ để phục chế lại phần rìa giấy.
Cứ thế, qua đôi bàn tay khéo léo của Hạ Cầm Thanh, những mảnh vỡ của thời gian, những ký ức tưởng chừng đã tan biến được gắn liền trở lại. Người ta tìm đến Khô Mộc Đường không chỉ để sửa một cuốn sách, mà là để giữ lại một niệm tưởng trong cuộc đời mình.
Vào một buổi chiều muộn tháng mười, gió bấc thổi mạnh, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông đang đến gần. Tiếng lá khô xào xạc trên mặt đường. Một lão phụ nhân chống gậy trúc, toàn thân mặc một bộ áo vải thô màu xám tro, gương mặt đầy những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày bước vào tiệm. Bà lão đặt lên chiếc bàn gỗ dài một gói vải bọc kỹ lưỡng bằng nhiều lớp, giọng nói run rẩy, khàn đặc:
“Nghe người ta đồn, Hạ nương tử ở đây có thể làm cho chữ đã mờ hiện trở lại, có thể nối lại những trang giấy đã rách?”
Hạ Cầm Thanh vội vã đỡ bà lão ngồi xuống chiếc ghế tre bên lò sưởi, rót một chén nước ấm đặt vào đôi bàn tay đang run cầm cập của bà: “Bà cứ từ từ nói, ta sẽ cố hết sức.”
Bà lão run rẩy mở từng lớp vải bọc ra. Bên trong là một quyển gia phả của một chi nhà họ Trần ở vùng Hà Bắc. Cuốn sách bị ẩm mốc nghiêm trọng do để ở nơi ẩm thấp lâu năm, các trang giấy dính chặt vào nhau thành một khối cứng ngắc, mủn ra giống như đất sét khô, mùi mốc ẩm xộc thẳng vào mũi.
“Đây là gia phả của nhạc gia nhà con trai lớn của ta.”
Bà lão thều thào, đôi mắt đục ngầu ứa ra hai giọt nước mắt già nua.
“Cả nhà họ… không còn một ai sống sót nữa rồi. Nay ta đã già, sống nay chết mai, chỉ muốn trước khi nhắm mắt xuôi tay, được nhìn lại cái tên của mấy đứa nhỏ năm đó một lần cuối, xem tụi nó được ghi chép thế nào.”
Hạ Cầm Thanh gật đầu, ánh mắt lộ vẻ nghiêm túc. Việc tách các trang sách bị đóng khối do ẩm ướt là một thử thách lớn nhất đối với người sửa sách, đòi hỏi một sự kiên nhẫn và tỉ mỉ tột độ. Nàng mang cuốn sách vào phòng trong, đặt lên một chiếc vỉ hấp chuyên dụng, dùng hơi nước ấm bốc lên từ nồi nước thuốc để làm mềm lớp hồ dán từ từ. Sau đó, dưới ánh đèn dầu hạt cải tù mù, nàng ngồi dùng một con dao mỏng như lá lúa, nhẹ nhàng, cẩn trọng gỡ từng sợi xơ giấy ra, không dám lơ là dù chỉ một khắc, vì chỉ cần một cái run tay nhẹ, cả trang giấy sẽ hóa thành vụn cám.
Nàng làm việc miệt mài suốt ba canh giờ. Đến khi đêm đã về khuya, tiếng trống canh ba từ xa vọng lại, Hạ Cầm Thanh mới tách được đến những trang cuối cùng của cuốn gia phả nhà họ Trần. Chi này định cư ở huyện Thanh Bình, thuộc phủ Hà Bắc. Khi mắt nàng lướt qua những dòng chữ ghi chép về niên hiệu Vĩnh Gia năm thứ mười hai, ngón tay đang cầm con dao của nàng đột nhiên khựng lại, toàn thân cứng đờ.
Năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Đó là chín năm trước.
Trên trang giấy màu vàng đã hoen ố, tên của hơn ba mươi người thuộc ba thế hệ của nhà họ Trần được viết bằng mực đen với nét chữ nghiêm cẩn của một người biết chữ trong làng. Nhưng điều kinh hoàng là, bên cạnh mỗi cái tên, từ cụ già tóc bạc trắng tám mươi tuổi cho đến đứa trẻ sơ sinh mới được ba tháng tuổi, đều có một dấu gạch chéo bằng mực đỏ chói mắt, cùng một dòng chữ nhỏ ghi ngày mất.
Tất cả hơn ba mươi con người của chi này đều chết vào cùng một tháng… là tháng Chạp năm Vĩnh Gia thứ mười hai.
Hạ Cầm Thanh cảm thấy tim mình đập nhanh hơn một nhịp. Nàng nhíu mày, lục tìm trong ký ức của mình. Chín năm trước, năm Vĩnh Gia thứ mười hai, nàng vẫn còn là phu nhân trong phủ Hộ Bộ Thị Lang, sống trong cảnh giàu sang phú quý. Nàng nhớ rất rõ vào mùa đông năm đó, Kinh thành Trường An khánh hạ lớn, đèn hoa rực rỡ suốt ba ngày ba đêm. Hoàng thượng ban chiếu chỉ khắp thiên hạ, khen ngợi việc triều đình cứu tế nạn đói ở Hà Bắc thành công mỹ mãn. Tờ giấy công bố của quan phủ dán ở cổng thành Trường An vang dội từng chữ lớn: “Đại cứu tế thành công.”
Năm đó Chu Thừa Lân vừa được thăng chức làm Thị độc Học sĩ tại Hàn Lâm Viện nhờ có công tham gia vào việc điều phối lương thực cứu tế. Đêm về, hắn hiếm khi lộ vẻ vui mừng, vuốt tóc nàng nói rằng tai ương phương Bắc đã qua, bách tính đã có cháo ăn, đã có nhà để về, thiên hạ lại ca khúc ca vui mừng.
Vậy thì tại sao, một chi trong tộc hơn ba mươi người ở ngay lòng Hà Bắc lại chết sạch trong vòng một tháng, ngay giữa lúc triều đình tuyên bố cứu tế thành công?
Ban đầu, Hạ Cầm Thanh tự trấn an bản thân rằng đây có thể là một sai sót của người ghi chép gia phả, hoặc gia đình này không may gặp phải một vụ cướp bóc hay hỏa hoạn cục bộ nào đó ở thôn quê. Nàng đưa trang giấy lên gần ngọn đèn dầu, nheo mắt nhìn kỹ vào phần rìa của trang giấy, nơi nối giữa trang sách và gáy sách. Đột nhiên, đồng tử của nàng co rụt lại.
Trang giấy ghi chép về cái chết của chi tộc này không phải là loại giấy xuyến thông thường dùng để viết gia phả gia đình. Chất giấy của nó xốp hơn, bề mặt mịn nhưng khi đưa lên ánh đèn sẽ thấy những sợi vân dọc ngang đặc trưng của “Giấy Thanh Đằng” chuyên dụng, có đóng dấu chìm của quan phủ, chỉ được dùng để làm hồ sơ hộ tịch và công văn chính thức.
Có ai đó đã dùng một con dao sắc bén, cắt phăng trang giấy gốc trong cuốn gia phả này đi. Sau đó, người đó khéo léo dùng hồ dán, đè một trang giấy Thanh Đằng của quan phủ lên, phỏng theo nét chữ cũ của cuốn sách để chép lại danh sách người chết này.
Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đây là một sự ngụy tạo có chủ đích, một vết thương rướm máu của lịch sử đã bị một bàn tay quyền lực nào đó dùng một lớp vải thưa che đậy lại.
Mối nghi ngờ giống như một hạt mầm đen tối rơi vào lòng đất ẩm ướt, bắt đầu âm thầm bén rễ và lớn dần trong tâm trí Hạ Cầm Thanh. Nàng không phải là một nữ tử hiếu kỳ tầm thường chỉ biết tò mò chuyện vụn vặt. Những năm tháng sống bên cạnh Chu Thừa Lân, dù không được phép bước chân vào tiền sảnh dự chính sự, nhưng với lối tư duy chặt chẽ, thói quen nhìn thấu qua các hiện tượng để tìm kiếm bản chất và chứng cứ của hắn đã vô tình thấm vào suy nghĩ của nàng từ lúc nào không hay.
Nàng bắt đầu hành động. Hằng ngày, sau khi đóng cửa tiệm Khô Mộc Đường vào giờ Dậu, Hạ Cầm Thanh lại khoác chiếc áo choàng cũ, đi khắp các chợ sách cũ, các sạp hàng phế liệu ở góc chợ Tây và chợ Đông của Trường An. Nàng bỏ ra không ít tiền bạc tích cóp được từ tiền công ít ỏi của việc vá sách để tìm mua tất cả những cuốn địa chí, sổ thuế ruộng, hồ sơ hộ tịch cũ và thậm chí là nhật ký chép tay của các thương nhân vùng Hà Bắc từ mười năm trước đổ lại. Việc này tốn không ít công sức, nhưng căn tiệm sửa sách cũ giờ đây đã trở thành một tấm bình phong hoàn hảo cho nàng. Người ta nhìn vào chỉ nghĩ Hạ nương tử thu thập giấy lộn cũ về để lấy nguyên liệu ép thành giấy mới dùng để vá sách mà thôi.
Càng đối chiếu các tài liệu, Hạ Cầm Thanh càng cảm thấy một luồng khí lạnh buốt chạy dọc theo sống lưng, khiến nàng rùng mình giữa đêm thanh vắng.
Nàng đem ba cuốn sách tìm được đặt song song lên chiếc bàn gỗ dài trong phòng đọc: một cuốn Hà Bắc Địa Chí bản khắc gỗ chính thức của triều đình năm Vĩnh Gia thứ mười lăm, một cuốn Thanh Bình Huyện Chí bản chép tay thô do một vị quan huyện lệnh đã về hưu bán lại, và một tập hồ sơ ghi chép về thuế ruộng, thuế muối của vùng Hà Bắc.
“Số hộ vô chủ tăng lên một cách bất thường… nhưng số người chết lại không khớp.”
Hạ Cầm Thanh lẩm bẩm một mình, ngón tay thanh mảnh đầy vết chai vì cầm thanh tre rọc giấy chỉ vào những dòng số liệu mâu thuẫn.
Theo tổng báo của Hộ bộ gửi lên triều đình vào năm Vĩnh Gia thứ mười hai, số lượng người chết vì thiên tai hạn hán trên toàn Hà Bắc chỉ là ba trăm hai mươi mốt người. Đó là một con số quá đỗi nhỏ bé, thậm chí là hoang đường đối với một trận đại hạn hán kéo dài liên tục suốt hai năm trời, khiến sông ngòi cạn kiệt. Nhờ bản báo cáo đẹp đẽ này, từ quan lại địa phương cho đến các đại thần khâm sai triều đình đều được thăng chức, ban thưởng long trọng vì công trạng “Cứu tế kịp thời, không để xảy ra biến loạn”.
Nhưng trong cuốn Thanh Bình Huyện Chí chép tay của vị quan huyện lệnh già kia, số lượng “ruộng đất không chủ, bỏ hoang không ai cày cấy” trong năm đó lại tăng lên gấp mười lần so với năm trước. Tập hồ sơ thuế ruộng ghi nhận nguồn thu từ muối, vải vóc và tô thuế của toàn vùng sụt giảm nghiêm trọng đến mức gần như bằng không, cơ hồ như một nửa dân số của cả một vùng đất trù phú đã bốc hơi khỏi mặt đất chỉ sau một đêm.
Đặc biệt, lý do tử vong của những hộ tịch bị xóa sổ trong các sổ bộ của quan phủ sau năm đó, tất cả đều được phê bằng một nét mực đỏ chói lọi hai chữ: “Dịch bệnh”.
Không có nạn đói nào cả, chỉ có dịch bệnh. Mà dịch bệnh là thiên tai, là ý trời, không phải do quan lại địa phương cứu tế chậm trễ, không phải do kho lương thực dự trữ bị tham ô trống rỗng. Quả là một cách đùn đẩy trách nhiệm hoàn hảo lên đầu ông trời.
“Cô không nên tiếp tục lật giở những trang giấy này nữa. Nó sẽ lấy mạng cô đấy.”
Một giọng nói trầm thấp, mang theo tiếng thở dốc và chút mệt mỏi kinh niên đột ngột vang lên từ phía cửa tiệm. Hạ Cầm Thanh giật mình ngẩng đầu lên, bàn tay vô thức khép vội cuốn sách lại.
Người bước vào là một nam tử khoảng ba mươi lăm tuổi, dáng người gầy gò mảnh khảnh, mặc một chiếc áo trường bào màu xanh đã sờn cũ ở gấu áo và cổ tay. Sắc mặt hắn nhợt nhạt, mang theo vẻ bệnh tật của người quanh năm giam mình trong phòng kín không thấy ánh sáng mặt trời. Hắn ôm trong tay một chiếc tráp gỗ nhỏ bằng gỗ tùng đơn sơ, đôi mắt nhìn nàng vừa có sự cảnh giác của một kẻ làm việc đại kỵ, lại vừa có một nỗi đồng cảm sâu kín.
Nàng nhận ra người này. Hắn tên là Thẩm Yến Thanh, một vị quan bát phẩm nhỏ giữ kho tư liệu cũ ở Hàn Lâm Viện. Thỉnh thoảng, hắn có ghé qua tiệm Khô Mộc Đường của nàng để tìm mua một vài loại mực cổ hoặc giấy xuyến thô. Hai người trước đây chưa từng nói chuyện quá ba câu, chỉ là người mua kẻ bán đơn thuần.
“Thẩm đại nhân,” Hạ Cầm Thanh lấy lại sự bình tĩnh, tay nàng vẫn đặt trên cuốn địa chí. “Ngài nói vậy là có ý gì? Tiệm của ta mở cửa đón khách, sửa sách cũ là bổn phận của ta.”
Thẩm Yến Thanh bước tới, chậm rãi đặt chiếc tráp gỗ lên bàn. Hắn không trả lời câu hỏi của nàng ngay, mà tự tay mở nắp tráp, lấy ra một quyển huyện chí cũ của huyện Định Châu, thuộc Hà Bắc. Trang sách đã bị ai đó dùng lực thô bạo xé mất một nửa, chỗ rách nham nhở, để lại những sợi giấy thô.
“Ta đến đây để nhờ Hạ nương tử sửa cuốn sách này.” Thẩm Yến Thanh nhìn thẳng vào mắt nàng, giọng nói được hạ thấp xuống đến mức tối đa, chỉ đủ cho hai người đứng sát nhau nghe thấy. “Nhưng xem ra, Hạ nương tử đang bận vá lại một thứ lớn hơn nhiều… một thứ mà cả triều đình này đều muốn đốt bỏ.”
Hạ Cầm Thanh im lặng nhìn hắn một lát, bầu không khí trong căn phòng nhỏ bỗng trở nên căng thẳng. Cuối cùng, nàng khẽ hỏi: “Thẩm đại nhân cũng biết chuyện năm Vĩnh Gia thứ mười hai sao?”
Thẩm Yến Thanh cười khổ, nụ cười đầy vẻ tự giễu và chua chát: “Người đọc sử đời sau luôn tưởng sử sách là thật. Họ tin vào từng nét mực được khắc trang nghiêm trên bản gỗ của triều đình, tin vào những lời ca tụng công đức. Thực ra… thứ được viết xuống và truyền lại cho đời sau, chỉ là thứ của kẻ còn sống sót, của kẻ chiến thắng quyền lực mà thôi.”
Hắn chỉ tay vào cuốn huyện chí bị xé của mình: “Trang bị xé này, ta đã lén sao chép lại trước khi nó bị hủy. Nó ghi lại việc ba kho lương lớn nhất ở Hà Bắc năm đó thực chất đã trống rỗng từ trước khi thiên tai đến do quan lại cấu kết với thương nhân đầu cơ tích trữ, bán tháo lấy tiền riêng. Khi nạn đói nổ ra, không có một hạt gạo nào được phát ra cứu bách tính. Người dân phải ăn rễ cây, ăn đất quan âm, rồi chết gục dọc các con đường. Nhưng trong cuốn quốc sử đang được biên soạn ở Hàn Lâm Viện hiện tại, ba kho lương thực đó được ghi vỏn vẹn một dòng: ‘Bị quân phiến loạn phóng hỏa thiêu rụi’.”
Hạ Cầm Thanh cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại, một làn sóng phẫn nộ xen lẫn đau xót dâng lên. Nàng nhìn Thẩm Yến Thanh, nam tử này nhìn qua rất yếu đuối, đôi vai hơi khom vì thói quen phải cúi đầu khúm núm nơi nha môn quyền quý, nhưng trong đôi mắt đục mờ của hắn lúc này lại có một đốm lửa nhỏ đang âm ỉ cháy, một đốm lửa của lương tri chưa bị mài mòn.
Họ là hai kẻ cô độc giữa kinh thành Trường An phồn hoa đô hội này. Một người phụ nữ ly hôn trốn trong tiệm sách cũ để nhặt nhạnh những mảnh vỡ của quá khứ, một vị quan nhỏ thấp cổ bé họng nấp trong thư khố triều đình để nhìn ngắm những lời nói dối vĩ đại. Họ nhận ra nhau, không phải bằng tình cảm nam nữ, mà là bằng sự đồng điệu của những sinh vật cô độc dưới đáy xã hội.
“Tại sao ngài lại nói với ta những điều này?” Hạ Cầm Thanh hỏi, ánh mắt đầy vẻ dò xét. “Ngài có biết ta là ai không? Ngài không sợ ta sẽ mang chuyện này đến phủ Hộ Bộ Thị Lang để lập công sao?”
“Cô là thê tử trước kia của Chu Thị Lang.”
Thẩm Yến Thanh thở dài, ánh mắt hắn lộ vẻ thấu tỏ.
“Nếu cô là người tham cầu vinh hoa phú quý hay muốn lập công danh thì đã không chấp nhận bước ra khỏi cánh cửa phủ Hộ Bộ Thị Lang đại biểu cho vinh hoa tột đỉnh kia để ở lại cái xó xỉnh bụi bặm này rồi. Cô âm thầm tra cứu những thứ này, chứng tỏ trong lòng có nghi vấn, trong tim có bất bình. Mà người có nghi vấn về sự thật ở cái Kinh thành Trường An này… hiếm lắm, sắp không còn ai nữa rồi.”
Hắn ghé sát tai nàng, thì thầm một câu cuối cùng trước khi ôm tráp gỗ bước ra cửa.
“Hồ sơ gốc của năm Vĩnh Gia thứ mười hai ở Hàn Lâm Viện đã bị thay thế hoàn toàn từ năm ngoái. Có người đang cố gắng xóa sạch những dấu vết cuối cùng trước khi bộ quốc sử mới hoàn thành. Mà người ký tên trên lệnh thay thế, niêm phong hồ sơ cũ đó… Hạ nương tử, chắc cô không xa lạ gì đâu.”
Thẩm Yến Thanh đi rồi, bóng hắn khuất dần trong ngõ tối đầy gió lạnh. Hạ Cầm Thanh ngồi thẫn thờ dưới ánh hoàng hôn đỏ thẫm như máu đang buông xuống qua ô cửa sổ. Nàng chậm rãi mở một góc tập hồ sơ hộ tịch ngụy tạo mà nàng vừa tìm được sáng nay. Ở góc dưới cùng của tờ giấy Thanh Đằng, nơi đóng dấu của quan viên thẩm định năm xưa, có một dòng chữ nhỏ ký tên bằng mực đen. Nét chữ ấy sắc sảo, dứt khoát, từng nét mác nét phẩy như rồng bay phượng múa, mang đầy khí thế của một bậc tài tử.
Đó chính là bút tích của Chu Thừa Lân năm hai mươi ba tuổi, là năm hắn mới bước chân vào quan trường không lâu.
...
Trời Trường An vào đông đón trận tuyết đầu mùa. Tuyết bay lả tả khắp các ngả đường, phủ một màu trắng xóa, tinh khiết lên những mái lầu cao vút, nguy nga của phủ Hộ Bộ Thị Lang và cả mái ngói rêu phong, rách nát của Khô Mộc Đường.
Cửa tiệm hôm nay không có một bóng khách. Hơi lạnh từ ngoài tràn vào qua các khe cửa gỗ khiến ngọn đèn dầu trên bàn chao đảo liên hồi. Hạ Cầm Thanh ngồi bên chiếc lò sưởi đất nung nhỏ, tay cầm một con dao tre dùng để cạo vết ố trên giấy, nhưng tâm trí nàng đã bay đi đâu mất rồi. Những con số mâu thuẫn, những cái tên bị xóa sổ, và nét chữ của Chu Thừa Lân cứ hiện lên quay cuồng trong đầu nàng.
Tiếng vó xe ngựa dồn dập, rầm rộ đột ngột dừng lại ngay trước cửa ngõ nhỏ vốn dĩ xe ngựa lớn không bao giờ vào. Tiếp đó là tiếng bước chân dẫm lên lớp tuyết xốp, âm thanh nặng nề, trầm ổn và mang theo một áp lực vô hình. Cánh cửa gỗ vang lên tiếng “két” thật lớn rồi mở ra, một luồng gió tuyết ùa vào, mang theo một bóng người cao lớn, khoác áo choàng lông màu đen sang trọng.
Chu Thừa Lân đứng đó. Trên vai hắn còn vương những hạt tuyết chưa kịp tan. Hắn nhìn quanh căn tiệm nhỏ hẹp, chật chội, đầy bụi bặm và mùi hồ dán của nàng, lông mày khẽ nhíu lại vì sự hoang tàn của nơi này. Cuối cùng, ánh mắt thâm trầm của hắn dừng lại trên khuôn mặt bình thản của Hạ Cầm Thanh. Đây là lần đầu tiên họ đối mặt với nhau sau ba tháng kể từ ngày ký tờ thư ly hôn.
“Cầm Thanh.” Chu Thừa Lân tự tay đóng cánh cửa gỗ lại, ngăn cách cái lạnh và ánh mắt của hộ vệ bên ngoài. Hắn bước đến trước bàn làm việc của nàng, không một lời khách sáo, đi thẳng vào vấn đề bằng giọng điệu ra lệnh của một vị quan lớn.
“Dừng lại đi. Đừng tra cứu nữa.”
Hạ Cầm Thanh không đứng dậy hành lễ, nàng cũng không hề lộ vẻ kinh ngạc hay hoảng hốt. Nàng bình thản rót một chén trà nóng từ chiếc ấm đất nung trên lò sưởi, đẩy sang phía đối diện.
“Hộ Bộ Thị Lang đại nhân trăm công nghìn việc, nửa đêm triều đình còn chưa xong việc, sao lại có thời gian ghé thăm xó xỉnh rách nát này của ta? Ngài bảo ta dừng lại cái gì? Ta không hiểu.”
“Nàng hiểu rất rõ ta đang nói đến điều gì.”
Đôi mắt Chu Thừa Lân thăm thẳm như bầu trời đêm đầy tuyết, chứa đựng một sự cảnh cáo nghiêm khắc.
“Nàng đang đi khắp kinh thành thu thập địa chí, hộ tịch của năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Nàng còn bí mật giao du với Thẩm Yến Thanh, một kẻ có tư tưởng phản nghịch ở Hàn Lâm Viện. Cầm Thanh, nàng có biết mình đang đùa với lửa không? Việc này có thể khiến nàng mất mạng, và khiến cả nhà họ Hạ bị lôi xuống nước.”
“Ta chỉ đang làm công việc của một người sửa sách cũ.” Hạ Cầm Thanh ngước mắt nhìn thẳng vào hắn, ánh mắt nàng trong vắt, không một chút tạp niệm, đối lập hoàn toàn với sự phức tạp trong mắt hắn.
“Khách hàng mang đến cho ta một cuốn gia phả của nhà họ Trần ở Hà Bắc. Ta sửa đi sửa lại, phát hiện ra trang giấy ghi chép quan trọng nhất đã bị người ta xé mất một cách tàn nhẫn. Ta là người sửa sách, bổn phận của ta là phải tìm lại phần bị xé, nối nó lại cho đúng vị trí của nó để trả lại sự vẹn toàn cho cuốn sách. Có gì sai sao, Hộ Bộ Thị Lang đại nhân?”
Chu Thừa Lân thở dài một tiếng, sự cứng rắn trên gương mặt hắn bỗng chốc chùng xuống. Hắn chậm rãi ngồi xuống chiếc ghế tre đối diện nàng, chiếc áo choàng lông cáo đắt giá kéo lê trên nền đất đầy bụi bặm nhưng dường như hắn không còn bận tâm đến điều đó nữa. Hắn nhìn chén trà bốc khói nghi ngút, gương mặt tuấn tú hiện lên vẻ già nua, mỏi mệt mà dân thường chưa từng thấy bao giờ.
“Năm đó triều đình ban chiếu: Đại cứu tế thành công.”
Giọng nói của Hạ Cầm Thanh bắt đầu khẽ run lên vì nghẹn ngào, nàng lấy từ dưới hộc bàn ra tờ giấy Thanh Đằng có bút tích của hắn rồi đặt mạnh lên bàn.
“Nhưng nhà họ Trần ở huyện Thanh Bình chết sạch ba mươi mốt con người chỉ trong tháng Chạp lạnh giá. Hộ tịch của họ bị người ta dùng quyền lực đổi thành giấy quan phủ, lý do chết đói bị sửa thành dịch bệnh để che mắt thiên hạ, che mắt Hoàng thượng. Chu Thừa Lân, trên những tờ hồ sơ ngụy tạo ấy… tại sao lại có chữ ký của ngài? Năm đó ngài mới hai mươi ba tuổi, lòng dạ ngài đâu thể đen tối như vậy?”
Bầu không khí trong căn tiệm bỗng chốc đông cứng lại, nghẹt thở đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng than củi nổ lách tách trong lò sưởi. Chu Thừa Lân nhìn chằm chằm vào nét chữ của chính mình từ chín năm trước. Hắn không phủ nhận, cũng không tìm lời chống chế. Giọng hắn khàn đặc, trầm xuống như vọng lên từ dưới đáy vực sâu.
“Đúng vậy, là ta ký.”
“Ngài biết họ bị chết đói? Ngài biết rõ kho lương thực trống rỗng và quan lại ăn chặn gạo cứu tế?”
Hạ Cầm Thanh hỏi, hai tay nàng dưới bàn siết chặt vào nhau đến mức các đầu ngón tay trắng bệch.
“Ta biết! Ta biết tất cả mọi chuyện!”
Chu Thừa Lân đột ngột ngẩng đầu lên, ánh mắt hắn không có sự trốn tránh hay hèn nhát, chỉ có một nỗi bất lực và đau đớn tận cùng của một kẻ đã bị hệ thống quyền lực đồng hóa.
“Nhưng khi đó ta bao nhiêu tuổi? Ta mới hai mươi ba tuổi! Ta vừa đỗ Trạng nguyên, chân ướt chân ráo bước vào Hàn Lâm Viện chưa đầy một năm. Bản báo cáo thật sự từ Hà Bắc gửi về ghi rõ số người chết đói lên đến hàng vạn, nhưng đã bị các vị đại thần đầu triều, các thế gia chặn lại ngay tại cửa Hộ bộ. Họ ném bản báo cáo đó trước mặt nhóm quan viên trẻ tuổi bọn ta, bắt chúng ta phải sửa đổi số liệu, biến ‘nạn đói’ thành ‘dịch bệnh’ trước khi trình lên Hoàng thượng.”