Chương 4
C4
Chương 4:
Đêm ngày mười lăm tháng Chạp, một trận cuồng phong kèm theo tuyết lớn chưa từng có trong vòng mười năm qua đổ ập xuống kinh thành Trường An. Gió rít gào qua các khe cửa, tiếng trống canh từ lầu trống vang lên trầm đục, đứt quãng giữa đêm đông tĩnh mịch, hoang vu.
Tòa nhà Sử quán của Hàn Lâm Viện chìm trong bóng tối dày đặc, lầm lỳ như một con quái vật bằng đá khổng lồ. Bằng chùm chìa khóa đồng đen của Chu Thừa Lân, Hạ Cầm Thanh và Thẩm Yến Thanh lặng lẽ lách qua cánh cửa ngách nhỏ hẹp, khuất sau bụi trúc già. Đi theo sau họ là ba vị thư sinh trẻ tuổi đều là những người học trò nghèo, những người từng được Hạ Cầm Thanh giúp vá sách miễn phí để đi thi khoa cử, những người trong lòng vẫn còn giữ nguyên vẹn sự phẫn nộ và dòng máu nóng của tuổi trẻ trước những bất công của cuộc đời.
Họ bước vào bên trong mật thất của Sử quán. Nơi đây chất đầy những giá gỗ cao ngất ngưởng, chứa hàng vạn cuộn hồ sơ, mùi giấy cũ mốc meo và mùi mực nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Trên chiếc bàn gỗ lớn đặt ở chính giữa căn phòng, tập hồ sơ gốc bằng giấy Thanh Đằng của năm Vĩnh Gia thứ mười hai nằm chơ vơ, lạnh lẽo dưới lớp bụi mỏng. Bên cạnh nó là cuốn sổ tay thô ráp chép bằng than bếp của người con trai bà lão mù ở Hà Bắc mà Hạ Cầm Thanh đã liều mạng mang về.
Họ không nói một lời thừa thãi, bởi họ hiểu rõ tính chất ngàn cân treo sợi tóc của đêm nay. Ba ngọn đèn dầu nhỏ được thắp lên, đặt ở góc khuất của bàn, xung quanh được che chắn kỹ lưỡng bằng những tấm vải đen dày để không một tia sáng nào có thể lọt qua khe cửa sổ ra ngoài.
Hạ Cầm Thanh nhận nhiệm vụ mài mực, đôi bàn tay nàng lên xuống đều đặn, nhịp nhàng trên nghiên đá cổ. Thẩm Yến Thanh với đôi mắt sáng rực, lật mở từng trang hồ sơ gốc bằng giấy Thanh Đằng. Ba vị thư sinh trẻ tuổi đồng loạt nhấc bút, nét chữ của họ hối hả chạy trên những trang giấy trắng tinh mà họ mang theo.
Họ đang thực hiện một cuộc chạy đua khốc liệt với thời gian, chạy đua với ngọn lửa quyền lực sắp sửa thiêu rụi toàn bộ sự thật vào sáng ngày mai. Họ không phải là những vị tướng quân có gươm đao trong tay để lật đổ một triều đại, họ cũng không nghĩ mình có thể cứu vớt được cả thiên hạ rộng lớn ngoài kia. Họ chỉ có một ý nghĩ duy nhất, thuần khiết và cố chấp nhất. Phải chép lại, phải lưu lại một bản sao chân thực nhất của lịch sử, để những cái tên của những người dân nghèo chết vì đói kia không bị biến thành tro bụi, để đời sau biết rằng họ đã từng sống đau đớn và chết đi trên mảnh đất này.
“Khụ… khụ khụ…”
Thẩm Yến Thanh bỗng nhiên ho khan dữ dội. Hắn vội vã lấy chiếc khăn tay bằng vải thô bịt chặt lấy miệng mình để ngăn tiếng động phát ra ngoài. Khi hắn lấy khăn ra, dưới ánh đèn dầu mờ ảo, một màu máu tươi chói mắt, đỏ rực đã nhuốm đẫm tấm khăn trắng. Căn bệnh kinh niên của hắn đã bước vào giai đoạn cuối cùng, chuyến đi gian khổ lên Hà Bắc vừa rồi đã vắt kiệt chút sinh mệnh ít ỏi còn sót lại của vị văn sĩ gầy gò này.
“Thẩm đại nhân, ngài nghỉ ngơi đi, để ta lật sách cho.” Hạ Cầm Thanh hốt hoảng, định giữ lấy bờ vai đang run lên của hắn.
Thẩm Yến Thanh nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đẩy tay nàng ra. Hắn nở một nụ cười nhợt nhạt, gương mặt trắng bệch vì mất máu nhưng đôi mắt hắn lúc này lại lấp lửng những tia sáng thanh thản, tự hào chưa từng có.
“Hạ nương tử, cả đời này ta nhút nhát, sống nơi nha môn Hàn Lâm Viện đều là gọi dạ bảo vâng, khúm núm cúi đầu trước tất cả mọi người, sống chẳng khác nào một con chuột nhắt trốn trong xó tối bẩn thỉu. Chỉ có đêm nay… chỉ có đêm nay đứng ở đây, ta mới thực sự thấy mình là một quan chép sử đúng nghĩa, xứng đáng với những trang sách thánh hiền. Nếu đêm nay chúng ta không chép lại những cái tên này, họ sẽ thật sự chết oan uổng, chết mà như chưa từng được sinh ra. Để ta làm… ta phải tự tay chứng kiến những cái tên này được sống lại trên giấy.”
Ngón tay hắn run rẩy vì lạnh và đau đớn, nhưng từng nét chữ, từng cử chỉ lật sách của hắn lại vô cùng dứt khoát, cứng cỏi.
Cùng lúc đó, tại điện Thái Hòa nguy nga tráng lệ trong nội đình cung cấm, Chu Thừa Lân đang một mình đối mặt với Hoàng đế và bách quan trong buổi yến tiệc cuối năm. Nơi đây rực rỡ ánh đèn hoa, rượu quỳnh tương bạt mạng, tiếng nhạc sáo rộn ràng.
Vị Thượng thư nhạc phụ tương lai của hắn cùng các đại thần sĩ tộc liên tục đứng dậy, dùng chén rượu để ép hắn ký vào tờ trình quyết toán việc biên soạn bộ thực lục, nhằm mục đích định ngay ngày giờ thiêu hủy toàn bộ tài liệu cũ vào sáng sớm mai để tránh đêm dài lắm mộng. Chu Thừa Lân đứng giữa đại điện, gương mặt bình thản như nước hồ thu, hắn dùng đủ mọi lý lẽ sắc bén của một vị Hộ Bộ Thị Lang. Từ việc phát hiện ra vài sai sót nhỏ trong cách dùng chữ của bản thảo cần phải đối chiếu lại, cho đến việc phải chờ đến giờ lành hợp phong thủy của Khâm Thiên Giám mới được phép đóng rương niêm phong. Một mình hắn, bằng tài hùng biện và uy nghiêm của mình, đã đơn độc đối đầu với bách quan, kéo dài thời gian, kéo dài từng khắc, từng canh giờ một cho những ngọn đèn dầu đang âm thầm cháy giữa chốn Sử quán hoang lạnh ngoài kia.
Hoàng đế ngồi trên ngai vàng chạm rồng, đôi mắt già nua, sắc bén như chim ưng nhìn xuống Chu Thừa Lân đang đứng dưới điện. Ánh mắt của thiên tử chứa đựng một sự thấu tỏ đáng sợ đến mức đóng băng người khác. Hoàng đế biết Chu Thừa Lân đang cố tình trì hoãn, ông ta biết vị Hộ Bộ Thị Lang trẻ tuổi này đang làm một chuyện đại kỵ sau lưng mình. Nhưng Hoàng đế cũng hiểu rõ, Chu Thừa Lân là kẻ tỉnh táo, hắn sẽ không bao giờ bước qua ranh giới cuối cùng là công khai phản nghịch lật đổ triều đình. Đây là một trò chơi tâm lý ngầm, một sự thỏa hiệp ngầm tàn nhẫn giữa vị thiên tử tối cao và vị Thị lang tài ba của mình.
Trở lại mật thất Sử quán, đêm đã về khuya, tiếng trống canh bốn vang lên. Bản sao thực lục chép tay dài hàng vạn chữ, chứa đựng toàn bộ sự thật về nạn đói Hà Bắc đã hỏa tốc hoàn thành được hơn hai phần ba Đột nhiên, từ phía sân ngoài của Sử quán vang lên những tiếng bước chân dồn dập, rầm rộ của giày lính dẫm lên nền tuyết, đi kèm với đó là tiếng vũ khí, giáp sắt va chạm vào nhau vang lên chói tai.
“Có kẻ đột nhập vào thư khố Sử quán! Mau bao vây toàn bộ các lối ra vào! Tra xét lập tức!” Tiếng quát lớn của vị Thống lĩnh cấm quân vang lên phá tan màn đêm tĩnh mịch.
Một vị thư sinh trẻ tuổi hoảng hốt đến mức đánh rơi cả cây bút lông xuống bàn khiến mực đen văng tung tóe: “Chúng ta… chúng ta bị phát hiện rồi! Cấm quân đã vào đến sân trước!”
Thẩm Yến Thanh nhìn Hạ Cầm Thanh, ánh mắt hắn bỗng nhiên trở nên vô cùng bình tĩnh, không một chút sợ hãi hay hốt hoảng của một kẻ sợ chết thường ngày. Hắn gom toàn bộ tập bản thảo chép tay đã hoàn thành được hai phần ba kia, cuộn chặt lại rồi nhét mạnh vào trong ngực áo bông rộng của Hạ Cầm Thanh. Sau đó, hắn dùng hết sức lực còn lại của cơ thể mang bệnh, đẩy mạnh nàng và ba vị thư sinh về phía mật đạo tối tăm thông ra chiếc giếng cạn bỏ hoang ở phía sau vườn trúc. Đây chính là con đường thoát hiểm duy nhất mà Chu Thừa Lân đã dặn dò nàng trước đó.
“Đi mau! Mang theo tập bản thảo này bước ra khỏi đây!” Thẩm Yến Thanh quát khẽ, giọng nói đầy vẻ nghiêm túc.
“Còn ngài thì sao? Thẩm đại nhân, cùng đi đi!” Hạ Cầm Thanh giàn giụa nước mắt, nàng nắm chặt lấy tay áo sờn cũ của hắn, không muốn buông bỏ người này.
“Ta không chạy nổi nữa, phổi của ta đã hỏng rồi, có ra ngoài cũng chỉ sống thêm được vài ngày trong cảnh trốn chui trốn lủi.”
Thẩm Yến Thanh nở một nụ cười rạng rỡ nhất cuộc đời mình. Hắn cầm lấy ngọn đèn dầu đang cháy trên bàn, không một chút do dự, ném mạnh vào những chồng hồ sơ ngụy tạo, những tờ giấy Thanh Đằng đẹp đẽ của triều đình ở bên cạnh.
Lửa gặp giấy khô lập tức bùng lên dữ dội, ánh lửa đỏ rực, ấm áp chớp mắt đã nuốt chửng những trang giấy viết toàn lời dối trá, chiếu sáng khuôn mặt gầy gò, thanh thản và ngạo nghễ của quan nhỏ giữ kho. Hắn quay lưng về phía mật đạo, tay cầm chặt cây bút lông, tư thế hiên ngang đứng chắn trước cửa mật thất.
“Để ta ở lại nơi này… dùng mạng tàn này làm chứng cho sự thật cuối cùng!”
Hạ Cầm Thanh bị ba vị thư sinh kéo mạnh vào trong bóng tối của mật đạo. Qua khe cửa bí mật đang dần khép lại, hình ảnh cuối cùng nàng nhìn thấy là bóng dáng gầy gò của Thẩm Yến Thanh ngồi ngạo nghễ giữa biển lửa đang bừng bừng lan tới. Hắn không chạy, hắn đón nhận cái chết như một sự giải thoát và vinh quang tột cùng của một người chép sử.
Khói đen và lửa lớn bốc lên ngùn ngụt từ Sử quán Hàn Lâm Viện, xé toạc màn đêm đầy tuyết lạnh, nhuộm đỏ rực cả một góc trời đêm của Kinh thành Trường An phồn hoa.
Chương 8:
Vụ hỏa hoạn thiêu rụi Sử quán Hàn Lâm Viện trở thành một sự kiện chấn động Kinh kỳ suốt nhiều tháng trời sau đó.
Thẩm Yến Thanh chết cháy trong biển lửa, thân xác hóa thành tro bụi cùng những trang giấy cũ. Triều đình nhanh chóng ra thông báo chính thức: Vị quan giữ kho tư liệu Thẩm Yến Thanh do bất cẩn trong đêm đông đã làm đổ đèn dầu, dẫn đến vụ hỏa hoạn nghiêm trọng, thiêu rụi toàn bộ tư liệu tham khảo cũ của năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Một cách kết án gọn gàng, đổ hết mọi trách nhiệm lên đầu một người đã chết.
Hai ngày sau vụ cháy, một đạo thánh chỉ từ nội đình ban xuống. Chu Thừa Lân bị bãi miễn hoàn toàn chức vị Hộ Bộ Thị Lang, thu hồi lại tất cả ấn tín, ngọc bài, giáng làm thường dân và bị trục xuất khỏi kinh thành Trường An vĩnh viễn vì tội “thiếu trách nhiệm, lơ là trong việc giám sát, bảo an quá trình biên soạn quốc sử, để xảy ra hỏa hoạn làm tổn hại đến tài liệu triều đình”.
Không có một cuộc đại thắng vĩ đại nào của công lý diễn ra ở Kinh thành Trường An. Không có vị đại thần tham ô nào năm xưa bị lôi ra ánh sáng, không có bản án oan sai nào được lật lại. Hoàng đế đương triều vẫn ngồi vững vàng trên ngai vàng rực rỡ, bộ quốc sử chính thống “Đại Đường Vĩnh Gia Thực Lục” vẫn được tổng duyệt, khắc bản in và ban bố khắp thiên hạ với những dòng chữ vàng son ca tụng một thời kỳ thái bình thịnh thế không một tì vết. Hệ thống quyền lực khổng lồ, tàn bạo ấy vẫn tiếp tục vận hành một cách hoàn hảo, lạnh lùng như một cối xay thịt, nghiền nát tất cả những kẻ yếu đuối hay những kẻ cố chấp dám đứng ra cản đường nó.
Vào một buổi chiều xuân ấm áp của ba năm sau.
Tại một thị trấn nhỏ nghèo nàn, hoang vu thuộc vùng biên thùy phía Tây Bắc quanh năm chỉ có gió cát và những rặng liễu cằn cỗi, cách xa kinh thành Trường An phồn hoa hàng ngàn dặm đường. Tại đây, ở góc chợ nhỏ, có một tòa nhà gỗ hai tầng đơn sơ mang tên “Tự Lưu Các”.
Nơi đây không phải là tiệm bán sách cổ của các bậc nho sĩ, cũng không phải là thư viện chính thức của quan phủ địa phương. Đó là một thư lâu dân gian độc nhất vô nhị chốn biên thùy hoang dã này. Người dân quanh vùng, từ những ông lão nông phu cả đời thất học, bàn chân nứt nẻ vì bùn đất, cho đến những vị tú tài nghèo rớt mồng tơi thi mãi không đỗ, từ những góa phụ mất chồng trong chiến tranh cho đến những người lính già giải ngũ mang đầy thương tích trên người… ai nấy đều tự nguyện mang đến đây những thứ đồ vật kỳ lạ, vụn vặt nhất của cuộc đời mình.
Đó có thể là một bức thư tay gia đình thấm đẫm nước mắt gửi từ tiền tuyến, một tờ gia phả dòng họ bị rách nát sau những trận cướp bóc, một cuốn nhật ký hành quân nguệch ngoạc của một người lính, hay thậm chí chỉ là vài dòng ghi chép mộc mạc bằng than trên vỏ cây về một năm làng quê bị mất mùa, bách tính phải chia nhau từng củ sắn rễ cây.
Tất cả những mảnh vỡ ký ức vụn vặt, hèn mọn của dân chúng ấy, khi mang đến Tự Lưu Các, đều được một người phụ nữ có khuôn mặt bình thản, đôi mắt trong trẻo và mười đầu ngón tay đầy những vết chai mực cẩn thận đón lấy. Nàng dùng hồ dán cổ, dùng giấy xuyến mỏng và kỹ thuật phục chế điêu luyện của mình để vá lại từng vết rách, đóng chúng thành từng tập sách ngay ngắn, ngăn nắp và xếp lên những giá sách bằng gỗ thông thơm ngát hương rừng. Người phụ nữ ấy, chính là Hạ Cầm Thanh.
Nàng đứng trước giá sách lớn nhất ở tầng hai, nhẹ nhàng dùng một chiếc khăn vải mềm lau sạch lớp bụi mỏng bám trên một tập sách dày có bìa bọc bằng loại vải thô màu xám tro trang nghiêm. Tập sách ấy chính là phần bản thảo chép tay dài hàng vạn chữ mà nàng và Thẩm Yến Thanh cùng ba vị thư sinh đã liều mạng sao chép được hai phần ba trong đêm hỏa hoạn năm xưa tại Sử quán Trường An. Suốt ba năm qua, đi khắp các vùng quê Hà Bắc và biên thùy, Hạ Cầm Thanh đã tự mình tìm gặp những người sống sót, gom góp thêm những cái tên để tự tay viết nốt một phần ba còn lại, hoàn thành trọn vẹn cuốn sách.
Trên bìa cuốn sách vải xám ấy, nàng tự tay đề một dòng chữ bằng mực đen vô cùng dứt khoát: “Thanh Bình Thực Lục - Những Người Đã Chết Vào Năm Thái Bình Vĩnh Gia Thứ Mười Hai.”
Tiếng bước chân quen thuộc, trầm ổn và thong thả vang lên từ phía cầu thang gỗ cũ kỹ vang lên từng tiếng “lạch cạch”.
Chu Thừa Lân mặc một chiếc áo trường bào bằng vải thô màu xanh chàm đơn giản của dân thường, tay xách một chiếc giỏ tre đựng vài mớ rau tươi vừa mua ở chợ và vài thỏi mực đen bình thường, rẻ tiền bước vào phòng. Ba năm rời xa chốn lầu vàng điện ngọc, rời xa đỉnh cao quyền lực của một vị Hộ Bộ Thị Lang, mái tóc đen mượt năm xưa của hắn giờ đây đã lốm đốm nhiều sợi bạc trắng vì sương gió biên thùy. Những nét sắc sảo, kiêu ngạo và lạnh lùng trên gương mặt tuấn tú ngày nào đã bị gió cát vùng biên ải mài mòn hoàn toàn, thay vào đó là một vẻ điềm đạm, ôn hòa và an nhiên tự tại của một người đã thực sự tìm thấy lối thoát cho linh hồn của chính mình.
Ngay từ đầu, khi đưa chùm chìa khóa mật thất Sử quán cho nàng, Chu Thừa Lân đã tỉnh táo biết rõ một con người nhỏ bé không bao giờ có thể chiến thắng hay lật đổ được cả một hệ thống quyền lực vĩ đại, tàn bạo của một triều đại. Hắn biết Thẩm Yến Thanh sẽ chọn cái chết, hắn biết bản thân mình sẽ bị lột sạch triều phục, bị bãi chức vĩnh viễn. Nhưng hắn vẫn quyết định làm điều đó. Vì trong những đêm dài thức trắng đối mặt với lương tâm của chính mình trong phủ Hộ Bộ Thị Lang, hắn chợt nhận ra rằng: Ý nghĩa của việc đấu tranh không phải lúc nào cũng là lật đổ kẻ mạnh ngay lập tức. Đôi khi, ý nghĩa lớn lao nhất là phải có ít nhất một con người dũng cảm sống sót bước ra khỏi cái hệ thống dối trá ấy, để sống một cuộc đời thực sự, một cuộc đời từ nay về sau không bao giờ phải cúi đầu hay giả vờ nhắm mắt trước sự thật nữa. Hắn chấp nhận làm bệ đỡ, chấp nhận tự hủy hoại tương lai của mình để đưa người phụ nữ có linh hồn thuần khiết nhất bước ra ngoài thế giới tự do này.
Chu Thừa Lân nhẹ nhàng đặt chiếc giỏ tre xuống góc bàn, hắn bước đến đứng sát bên cạnh Hạ Cầm Thanh, tự nhiên cầm lấy thỏi mực đen thô ráp trên nghiên đá, bắt đầu mài mực giúp nàng giống như những ngày hai người còn ở thuở hàn vi, chưa bước chân vào Kinh thành.
“Hôm nay trong tiệm có cuốn sách nào mới của bách tính mang đến không?” Chu Thừa Lân khẽ hỏi, giọng nói ấm áp, tràn đầy sự dịu dàng.
“Có một vị lão binh vừa đi khập khiễng mang đến đây một tập ghi chép tay.”
Hạ Cầm Thanh ngước nhìn hắn, nụ cười của nàng rạng rỡ, trong sáng dưới ánh nắng xuân. Ánh mắt của hai người gặp nhau giữa căn phòng đầy mùi giấy mực cổ, trong mắt họ không còn sự xa cách, nghi kỵ của bức tường phủ Hộ Bộ Thị Lang năm xưa, không còn nỗi đau đớn, bất lực của quá khứ đẫm máu ngoài kia. Giờ đây, chỉ còn lại một sự thấu hiểu sâu sắc, một sự gắn kết định mệnh của hai kẻ đồng hành đã cùng nhau đi qua địa ngục để tìm thấy ánh sáng của sự thật.
“Tập ghi chép ấy ghi lại tên tuổi của mười tám người thợ gốm nghèo ở làng bên bị quan phủ bắt đi phu xây dựng lăng mộ hoàng gia năm ngoái rồi bị sập hầm chết sạch, không một ai đứng ra bồi thường hay ghi danh. Ta đang chuẩn bị vá lại nó để xếp lên giá.”
Một cô bé nhỏ tuổi, tết bím tóc hai bên, là con của nhà nông phu hàng xóm chạy tung tăng vào trong tiệm chơi. Cô bé tò mò nhìn ngắm những giá sách gỗ cao ngất ngưỡng chất đầy những cuốn sách thô sơ, rách nát, bìa bọc vải thô chứ không hề lộng lẫy như sách ở trường học. Cô bé ngước khuôn mặt ngây thơ cùng đôi mắt tròn xoe lên nhìn Hạ Cầm Thanh, nghiêng đầu hỏi:
“Hạ nương tử, thầy đồ ở trường học nói với chúng ta rằng: Sách sử thì phải ghi chép lại chuyện kinh thiên động địa của Hoàng đế vĩ đại, của các vị tướng quân cưỡi ngựa ra trận lập công danh thì mới được gọi là lịch sử. Vậy còn những cuốn sách cũ nát, xấu xí này của tỷ… chúng ghi lại chuyện của những người nông dân, người lính nghèo thôi mà. Vậy đối với tỷ, lịch sử thực sự là gì vậy?”
Hạ Cầm Thanh nghe vậy thì dừng con dao tre đang tỉ mẩn cạo vết ố trên tay lại. Nàng chậm rãi bước đến bên ô cửa sổ lớn của tầng hai, nơi ánh nắng mùa xuân ấm áp, rực rỡ đang nhảy múa trên những trang giấy thô ráp được vá lại một cách hoàn hảo, khéo léo qua đôi bàn tay nàng. Nàng cúi xuống, nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc tơ của cô bé, ánh mắt nhìn ra rặng liễu đang đâm chồi nảy lộc ngoài xa, rồi chậm rãi trả lời bằng một giọng nói dịu dàng nhưng vang vọng, truyền cảm.
“Lịch sử thực sự không phải chỉ nằm ở những pho tượng vàng son chói lọi chốn cung đình Kinh thành, cũng không phải chỉ là những lời ca tụng một chiều của các bậc vương hầu khanh tướng. Lịch sử thực sự của thế gian này… chính là những điều mà có những con người bình thường đã chấp nhận liều mạng sống của mình, chấp nhận mất đi tất cả để giữ lại bằng được, để nói cho đời sau biết một sự thật rằng: Trên mặt đất rộng lớn này, mỗi một con người bình thường, dù là hèn mọn, dù là nghèo khổ đến đâu, thì họ cũng đã từng thực sự sinh ra, thực sự đau đớn, và thực sự tồn tại như một con người.”
(Hết)