Chương 2
C2
Tiếng động ở cửa sau không lớn, bị tiếng sấm và tiếng mưa xối xả bên ngoài nuốt chửng mất quá nửa, nhưng lại nện thẳng vào màng nhĩ ta như một tiếng chuông gọi hồn.
Cha ta đặt gậy cời lửa trong tay xuống, vội vã cầm cây đèn dầu đi về phía cửa sau. Không biết ta lấy sức lực từ đâu ra, lập tức đứng bật dậy, bất chấp đôi chân đang bủn rủn, lao theo giữ chặt vạt áo của ông.
"Cha, đừng mở cửa! Con cầu xin cha!"
Giọng ta khản đặc, trong mắt là sự hoảng loạn tột cùng. Cha ta sững lại, ông nhìn khuôn mặt đỏ bừng đầm đìa nước mắt của ta, còn chưa kịp lên tiếng thì cánh cửa gỗ lỏng lẻo đã bị một lực mạnh từ bên ngoài xô ngược trở vào.
Mùi máu tanh nồng, đậm đặc đến mức lấn át cả mùi đất ẩm sau mưa, theo gió lạnh tràn vào gian phòng. Một người đàn ông mặc y phục đen ngã khuỵu trước ngưỡng cửa. Ánh đèn dầu trên tay cha ta hắt lên người hắn. Cho dù y phục của hắn rách nát, thấm đẫm nước mưa và máu, ta vẫn nhận ra chiếc trâm ngọc khắc hình mây cuộn trên tóc hắn, cùng thanh đoản kiếm nạm ngọc đen vắt ngang hông.
Tiêu Dực. Nam chính của cuốn tiểu thuyết này. Vị Tần vương tương lai sẽ lật đổ bạo quân, lập nên thời thái bình thịnh thế.
Hắn ngước mắt lên. Đó là một đôi mắt sắc bén ngay cả khi đang cận kề cái chết, môi hắn nhợt nhạt, bả vai trái bị một vết chém sâu đến tận xương, máu thịt nhầy nhụa. Hắn nhìn cha ta rồi nhìn bếp lửa đang bùng cháy trong nhà, cổ họng phát ra tiếng rên rỉ trầm đục rồi ngất lịm đi.
"Trời đất ơi, thương tích thế này..." Thím Trương ngồi bên bếp ôm con, kinh hãi thốt lên, vội vã che mắt đứa bé lại.
"Cha, vứt hắn ra ngoài đi!" Ta gào lên, hai tay bấu chặt vào tay cha, móng tay ghim vào da thịt ông.
Mẹ ta từ trong buồng bước ra, thấy cảnh tượng này thì mặt cắt không còn giọt máu. Bà run rẩy ôm lấy Tiểu Vũ vào lòng. Cha ta nhìn người đàn ông đầy máu dưới đất rồi lại nhìn ta. Ông chưa bao giờ thấy đứa con gái ngoan ngoãn của mình có ánh mắt điên cuồng và đáng sợ đến thế. Ông mím môi, định cúi xuống đỡ Tiêu Dực thì từ đầu ngõ đã vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập và tiếng giáp sắt va vào nhau lạch cạch.
“Truy bắt phản tặc! Lục soát kỹ từng nhà cho ta! Kẻ nào chứa chấp, giết không tha!”
Tiếng quát tháo đầy sát khí của quan binh vang vọng. Cha ta khựng lại. Sắc mặt ông từ kinh ngạc chuyển sang hốt hoảng. Ông là một người dân nghèo sống ở góc nhỏ Kinh thành cả đời, ông thừa biết ba chữ "giết không tha" của quân lính triều đình có nghĩa là gì.
"Không kịp nữa rồi..." Cha ta lầm bầm, giọng ông run lên nhưng đôi mắt đột nhiên tỉnh táo một cách lạ thường.
Ông không phải người hiện đại, ông không biết Tiêu Dực là ai, nhưng ông có bản năng của một người chủ gia đình muốn bảo vệ vợ con. Ông nhìn vết máu dài từ ngoài ngõ kéo thẳng vào tận ngưỡng cửa nhà mình. Nước mưa bên ngoài đang xối xả, nhưng lượng máu chảy ra quá nhiều, dung dịch màu đỏ thẫm ấy đã nhuộm bẩn cả ngưỡng cửa sau nhà.
"A Trúc, nếu bây giờ vứt hắn ra ngoài, quan binh tới nơi thấy hắn ở cửa, thấy vết máu này, cả nhà chúng ta và mẹ con thím Trương đều sẽ bị khép vào tội đồng lõa, lập tức bị chém đầu tại chỗ."
Cha ta nhìn thẳng vào mắt ta, nói bằng giọng gấp gáp. "Không phải là chúng ta cứu hắn, chúng ta đang tự cứu mình!"
Nói rồi, cha ta cúi người, dùng hết sức bình sinh vác Tiêu Dực lên vai. Ông vội vã bước về phía góc nhà, nơi có một hầm nhỏ lát bằng ván gỗ. Đó vốn là nơi nhà ta dùng để tích trữ củi khô và khoai tây qua mùa đông.
"Mẹ nó ơi, mau lấy nước dội chỗ máu ở cửa! Mau lên!" Cha ta hét lớn.
Mẹ ta giật mình tỉnh người, vội vã bưng chậu nước gừng vừa đun đổ ào xuống trước ngưỡng cửa, dùng chổi tre điên cuồng quét sạch vết máu trộn lẫn với bùn đất. Ta đứng chết trân tại chỗ, nhìn cha đẩy Tiêu Dực xuống hầm củi, rồi lấy những thanh củi gộc xếp chồng lên trên tấm ván che miệng hầm.
Mọi việc vừa hoàn tất thì cánh cửa trước của quán mì bị một cú đá hung hãn chẻ ra làm đôi. Ba tên lính mặc giáp sắt, tay cầm trường đao sáng loáng bước vào. Nước mưa từ mũ giọt xuống sàn nhà. Tên cầm đầu có khuôn mặt bặm trợn, ánh mắt như chim ưng đảo qua một lượt căn phòng độc một gian quán nhỏ.
Trong nhà lúc này, cha ta đang đứng thở hổn hển bên cạnh vại nước, mẹ ta ôm Tiểu Vũ co rúm trong góc, thím Trương thì run rẩy ôm đứa con nhỏ bên bếp lửa.
"Đêm hôm không ngủ, mở cửa làm gì?" Tên lính cầm đầu lạnh lùng hỏi, thanh trường đao trong tay hắn vẫn còn dính những vệt máu chưa bị nước mưa rửa sạch.
Cha ta vội vàng quỳ sụp xuống, giọng run rẩy đầy sợ hãi: "Bẩm... bẩm quan lớn, con gái thảo dân bị sốt cao, nhà hàng xóm bị tốc mái, đứa nhỏ lại bị xà gỗ đè lên chân nên qua trú nhờ. Thảo dân đang nhóm bếp đun chút nước gừng..."
Tên lính không thèm nghe ông phân bua. Hắn bước lại gần bếp lửa, lỗ mũi hít hà. Khứu giác của một kẻ quanh năm trên chiến trường quá nhạy bén. Cho dù trong nhà có mùi nước gừng nồng nặc, mùi dầu mỡ cũ của quán mì, hắn vẫn ngửi thấy một mùi vị khác.
"Có mùi máu." Hắn híp mắt lại.
"Là... là do thảo dân vừa nãy vội vã nhóm bếp, không cẩn thận bị dằm củi đâm vào tay..." Cha ta vội giơ bàn tay thô ráp, nơi có một vết rách đang rỉ máu ra.
Tên lính nhìn bàn tay cha ta, nở một nụ cười tàn nhẫn: "Mẹ kiếp, thà giết nhầm còn hơn bỏ sót. Lục soát cho ta! Đập nát cái quán này ra xem có hầm ngầm hay không!"
Hai tên lính phía sau lập tức lao vào như những con chó dữ. Chúng dùng trường đao gạt phăng tất cả bát sành, thớt gỗ trên kệ xuống đất. Tiếng gốm sứ vỡ vụn loảng xoảng hòa cùng tiếng khóc thét của Tiểu Vũ.
Để tìm kiếm nhanh hơn, tên lính điên cuồng dùng giáo dài đâm bừa bãi vào các góc nhà. Khi bước đến gần khu vực bếp, thấy đống củi khô chất cao, hắn lười biếng không muốn nâng lên, lập tức vung chân đá thẳng vào chiếc bếp lò đang đỏ lửa. Lò đất bị nện vỡ làm đôi. Những thanh củi đang cháy rừng rực, những viên than đỏ rực văng tung tóe khắp nơi, rơi thẳng vào đống rơm rạ và củi khô dùng để nhóm bếp dưới gầm kệ.
Chưa dừng lại ở đó, khi một tên lính khác lật tìm trên chiếc chạn tre đã gạt đổ hũ mỡ lợn lớn mà mẹ ta chắt chiu cả năm trời. Hũ sành vỡ tan, chất lỏng sánh đặc, béo ngậy chảy lênh láng, gặp than hồng đang cháy lập tức bùng lên một tiếng “Xèo” kinh hoàng.
Lửa gặp dầu mỡ và củi khô bên trong nhà, lập tức bùng lên như một con quái vật sổ lồng. Chỉ trong vài nhịp thở, ngọn lửa hung hãn đã liếm trọn phần trần nhà bằng tre tre nứa khô ráo phía trên bếp. Khói đen cuồn cuộn bốc lên cay xè mắt, bao trùm lấy không gian chật hẹp.
"Đại ca, lửa to quá, không có gì đâu, đi thôi! Phố bên cạnh có động tĩnh!" Một tên lính ho sặc sụa, nhìn ngọn lửa đang lan nhanh, liền lớn tiếng gọi.
Tên cầm đầu hừ một tiếng, nhìn gia đình ta bằng ánh mắt coi thường: "Đi. Để bọn kiến cỏ này tự sinh tự diệt đi."
Chúng quay lưng, nghênh ngang bước ra ngoài màn mưa, bỏ lại một gian quán mì đang biến thành một lò thiêu ngột ngạt. Sau đó ta còn nghe tiếng gài cửa từ bên ngoài.
"Mẹ nó ơi! Mau mang các con ra ngoài! Thím Trương, chạy mau lên!" Cha ta hét lên.
Lửa lan ra cửa trước quá nhanh do vết dầu mỡ loang lổ trên sàn. Lối thoát duy nhất lúc này là chiếc cửa sổ nhỏ bên vách đất phía sau, thông ra một con hẻm nhỏ dốc nước.
Mẹ ta bế xốc Tiểu Vũ lên, thím Trương cũng ôm chặt con trai, dưới sự hỗ trợ của cha ta, hai người phụ nữ đạp lên chiếc hòm gỗ, leo qua cửa sổ nhảy xuống làn mưa buốt giá bên ngoài.
Ta là người tiếp theo. Khi cha nâng người ta lên bậu cửa sổ, ta quay đầu lại, nhìn thấy làn khói đen kịt đang cuồn cuộn bốc lên từ phía góc nhà, mà nơi ấy đặt hầm bí mật cất giấu Tiêu Dực.
Do sàn nhà bằng gỗ phía trên hầm củi bắt đầu bắt lửa, nếu cứ theo đà này, lửa sẽ thiêu rụi tấm ván, khói độc và than hồng sẽ rơi xuống hầm, Tiêu Dực sẽ chết cháy. Và nếu tấm ván cháy sập, quan binh bên ngoài nhìn vào đống tro tàn sẽ phát hiện ra hầm ngầm giấu người. Lúc đó, dù gia đình ta có chạy trốn bên ngoài cũng sẽ bị truy sát đến cùng trời cuối đất.
Cha ta cũng nhìn thấy điều đó. Ông hiểu rõ cấu tạo của ngôi nhà này hơn ai hết.
"A Trúc, nhảy xuống đi. Bảo mẹ con chạy mau!" Cha ta dùng lực đẩy mạnh ta ra ngoài cửa sổ.
Ta ngã nhào xuống vũng bùn nước lạnh ngắt, toàn thân run rẩy. Qua khe cửa sổ đang bốc khói nghi ngút, ta kinh hoàng nhìn thấy cha ta không chạy ra theo mọi người. Ông quay người lao vào trong biển lửa.
Ông dùng đôi bàn tay trần bê những bao cát nặng dùng để chặn vách mùa bão, điên cuồng kéo những bao tải hạt ngũ cốc ẩm ướt xếp chồng lên trên khu vực hầm củi. Ông đang dùng những thứ đó để dập tắt ngọn lửa đang bén vào miệng hầm, để cách nhiệt, để dập tắt mọi tia lửa có thể rơi xuống người tên thích khách đang trốn bên dưới.
Ông làm vậy không phải vì muốn làm anh hùng cứu vớt giang sơn. Ông làm vậy vì ông biết, chỉ cần căn hầm này không bị phát hiện, chỉ cần tên phản tặc kia không bị lôi ra từ đống tro tàn của nhà họ Lục, thì vợ ông, con gái ông, con trai ông ở bên ngoài mới có thể đường hoàng mà sống, mới không bị triều đình đuổi cùng giết tận. Ông đang dùng mạng của mình để lấp kín bí mật chết người này.
"Cha! Cha ra đi mà! Cha!"
Ta gào khóc, hai tay cào cấu vào bậu cửa sổ rực lửa, da thịt ở lòng bàn tay phỏng rộp, đau đớn thấu xương nhưng không bằng sự bất lực trong lòng ta.
“Rắc… Rắc…”
Một tiếng động kinh hoàng vang lên. Thanh xà nhà bằng gỗ vốn đã mục nát theo thời gian, lại bị ngọn lửa thiêu rụi phần cốt lõi, không chịu nổi sức nặng mà gãy làm đôi.
"Ông nó ơi!!!"
Một tiếng gào xé lòng vang lên từ phía sau ta. Mẹ ta vừa mới đặt hai đứa trẻ xuống vùng an toàn, nhìn thấy cảnh tượng đó qua cửa sổ, đã phát điên mà lao ngược trở lại. Bà nhoài nửa người vào trong cửa sổ, hai tay vươn ra cố gắng nắm lấy áo của cha ta. Thế nhưng đã quá muộn.
Thanh xà nhà khổng lồ mang theo ngọn lửa rực đỏ ầm ầm đổ xuống, đè thẳng lên lưng cha ta. Ta nghe thấy tiếng xương cốt gãy vụn bị tiếng lửa gầm rú nuốt chửng. Cha ta quỵ xuống trên đống bao cát, không kịp phát ra một tiếng kêu nào, đôi mắt ông hướng về phía cửa sổ, nơi có vợ và các con ông, ánh mắt ấy tràn ngập sự lưu luyến xen lẫn bất lực.
Lửa từ thanh xà bùng lên, liếm qua cửa sổ. Mẹ ta không chịu lùi lại, bà điên cuồng cào cấu đống đổ nát trong tuyệt vọng. Ngọn lửa hung hãn táp thẳng vào mặt, vào cánh tay bà. Vải áo bén lửa, da thịt cháy xèo xèo phát ra mùi khét nồng nặc.
"Mẹ! Đừng mà!"
Ta dùng hết chút sức lực tàn tạ ôm chặt lấy ngang hông mẹ, kéo mạnh bà ngã ngửa ra sau, rời khỏi bậu cửa sổ đang sụp đổ.
Đêm đó, mưa xuân Kinh thành lớn chưa từng có, nhưng cơn mưa ấy không dập tắt được ngọn lửa rực trời đang thiêu rụi quán mì nhà họ Lục.
Mẹ ta ôm vết bỏng nửa người nằm gục trên vũng bùn, ngất lịm đi vì đau đớn tột cùng. Đệ đệ Tiểu Vũ của ta, đứa trẻ sáu tuổi vốn thích bắt chước tiếng chim hót, lúc này đang co rúm người dưới gầm một chiếc xe bò cũ ở góc hẻm. Hai tay ôm chặt lấy đầu, đôi mắt trợn trừng nhìn trân trân vào ngọn lửa đỏ rực đang nuốt chửng cha mình.
Nó há miệng, muốn khóc, muốn kêu, nhưng cổ họng chỉ phát ra những tiếng ú ớ nghẹn ngào, đứt quãng. Gương mặt vặn vẹo vì kinh hãi tột độ. Tâm linh của một đứa trẻ sáu tuổi đã hoàn toàn vỡ vụn trong đêm nay. Từ giây phút ấy, đứa bé đã không tìm được giọng nói của chính mình.
Ta ngồi bệt trong mưa, toàn thân ướt sũng, nước mưa lạnh giá hòa lẫn với nước mắt và máu từ đôi bàn tay bị bỏng. Ta nhìn quán mì, nhìn mái ấm duy nhất của ta ở thế giới này biến thành một đống tro tàn đen kịt.
Mười sáu chữ.
“Quan binh truy bắt thích khách, lửa cháy đến quán mì nhà họ Lục ven đường.”
Ta đã chiến đấu ba năm, chịu đựng sự bóc lột của sưu thuế, dùng hết trí tuệ của một người hiện đại để bán mạng kiếm tiền. Nhưng rốt cuộc, ta vẫn không thể chống lại được một dòng chữ đã định sẵn số mệnh.
Gia đình ta đã hoàn thành sứ mệnh của những kẻ qua đường trong sách. Cha chết trong biển lửa, mẹ tàn phế, đệ đệ biến thành người câm. Tất cả những bi kịch này chỉ để đổi lấy một việc duy nhất, giữ cho vị nam chính Tiêu Dực đang nằm dưới hầm củi kia được sống sót, để hắn tiếp tục con đường Vương giả, quyền khuynh thiên hạ của mình.
Đêm ấy, ta ôm lấy thân thể lạnh ngắt của mẹ và đệ đệ, ngồi trước đống tro tàn âm ỉ khói suốt một đêm ròng. Ngoài cuốn sách là một đời, và cuộc đời của gia đình ta, từ nay về sau chỉ còn lại sự tàn phế và hận thù chôn giấu.
..........
Khi tia nắng bình minh đầu tiên của ngày hôm sau xuyên qua lớp mây mù xám xịt, rọi xuống con ngõ nhỏ phía Tây kinh thành, trận mưa xuân đã tạnh. Quán mì nhà họ Lục giờ chỉ còn là một vài đoạn tường đất nứt nẻ, xiêu vẹo ôm lấy một đống tro tàn đen kịt còn âm ỉ khói.
Ta gắng gượng đứng dậy khỏi vũng bùn, đầu óc quay cuồng vì cơn sốt chưa lui và nỗi đau đớn tột cùng từ đôi bàn tay bị phỏng. Mẹ vẫn đang hôn mê bên cạnh, hơi thở yếu ớt, nửa khuôn mặt và bả vai trái của bà đã bị ngọn lửa thiêu cháy, da thịt đỏ lựng, phồng rộp những bọng nước vàng. Đệ đệ Tiểu Vũ sáu tuổi ngồi bất động dưới gầm chiếc xe bò cũ, đôi mắt mở to vô hồn nhìn vào khoảng không, không một tiếng khóc, không một lời nói. Giống như một con búp bê bằng vải đã bị rút hết linh hồn.
Ta lảo đảo bước về phía đống đổ nát, dùng đôi tay nứt toạc của mình điên cuồng bới tìm trong đống tro tàn.
Tại vị trí hầm củi năm xưa, những bao cát và bao ngũ cốc ẩm ướt mà cha dùng mạng sống để đắp lên đã bị thiêu rụi một nửa. Tấm ván gỗ dày phía dưới bị sức nóng làm cho nứt toác, nhưng không sập hoàn toàn. Khi ta nhấc một góc ván lên, ở dưới hầm hoàn toàn trống rỗng.
Tên thích khách kia đã đi rồi.
Hắn đã rời đi từ lúc nào? Có lẽ là vào nửa đêm, khi ngọn lửa vừa dịu xuống và quan binh chuyển hướng sang con phố khác, những thuộc hạ trung thành của hắn đã lén lút đến và mang hắn đi. Hắn sống sót, lành lặn và an toàn, tiếp tục hành trình vương giả của mình.
Đối với một vị Hoàng tộc cao quý đang trên đường trốn chạy, quán mì này chỉ là một trạm dừng chân tạm thời, và mạng sống của những kẻ bán mì nghèo khổ chỉ là những viên đá lót đường hiển nhiên cho đại cuộc của hắn.
Nước mắt ta không thể chảy nổi. Ta cười. Cũng chỉ có thể cười.
Cái giá của mười sáu chữ trong sách, nhà họ Lục chúng ta đã trả xong bằng một mạng người và hai cuộc đời tàn phế. Còn kẻ được cứu, hắn đã bước tiếp vào hào quang của nguyên tác.
Việc đầu tiên ta phải đối mặt sau bi kịch không phải là khóc thương người cha đã mất, mà là sự tàn khốc của việc sinh tồn. Ta gom góp tất cả những mảnh gỗ cháy dở còn sót lại để dựng tạm một túp lều tranh nhỏ bên cạnh bức tường đất đổ nát để làm chỗ che mưa che nắng cho mẹ và Tiểu Vũ. Sau khi nhìn thấy vết thương của mẹ ta, thầy thuốc ở y quán đầu phố lắc đầu ái ngại, ra giá ba lượng bạc cho liều thuốc bỏng và thuốc giữ mạng. Ba lượng bạc. Đối với gia đình ta lúc này, đó là một con số trên trời. Toàn bộ hũ tiền sứ đã bị binh lính triều đình cướp đoạt và ngọn lửa thiêu rụi.
Ta đứng trước cửa y quán, dập đầu đến mức trán chảy máu, cầu xin vị chưởng quầy cho khất nợ. Nhưng ông ta chỉ lạnh lùng xua tay:
"Cô nương, không phải ta không có lòng từ bi, nhưng thời buổi loạn lạc, giá dược liệu tăng vọt, y quán chúng ta cũng phải nuôi người. Không có bạc, ta không thể bốc thuốc."
Ta nhìn sang tiệm cầm đồ bên cạnh rồi nhìn xuống bản thân mình. Ta không có lấy một món đồ trang sức nào, bộ y phục thô sơ trên người đầy vết rách và vết máu cháy khét. Ta chẳng có gì để cầm cố ngoài tấm thân gầy guộc mười ba tuổi này.
Trong cơn tuyệt vọng, ta đành phải tìm đến hẻm Ngưu Tam ở phía Nam kinh thành - nơi tụ họp của phường cho vay nặng lãi Đại Hưng. Đó là nơi ngập tràn mùi rượu rẻ tiền, tiếng chửi thề và tiếng xúc xắc vang lên lách cách.
"Muốn vay ba lượng bạc?" Người của phường vay híp mắt nhìn ta, lộ ra hàm răng vàng khè đầy vẻ giễu cợt.
"Nhìn ngươi gầy gò thế này, nhà lại vừa cháy, lấy gì mà thế chấp?"
"Ta sẽ dùng đôi tay này để trả."
Ta giơ đôi bàn tay quấn đầy vải thô rỉ máu lên, giọng nói bình thản đến đáng sợ.
"Ta biết làm mì, ta sẽ dựng lại quán. Mỗi tháng ta sẽ trả cho các người năm trăm đồng tiền lãi, cho đến khi trả hết gốc thì thôi."
Tên bặm trợn nhìn vết sẹo bỏng gớm ghiếc trên tay ta, bỗng nhiên cười lớn:
"Được, có khí phách! Nhưng quy định của Đại Hưng là vay ba trả sáu. Trong vòng nửa năm không trả hết, ta sẽ bán đệ đệ ngươi vào rạp xiếc, bán ngươi vào thanh lâu."
Ta không hề do dự, dùng ngón tay cái dính máu ấn mạnh vào tờ văn tự giả bán thân kia.
Cầm ba lượng bạc đổi bằng máu và tương lai trong tay, ta lao về y quán mua thuốc cho mẹ. Khi nhìn những giọt thuốc đắng ngắt được đổ vào khuôn mặt vặn vẹo vì đau đớn của bà, cõi lòng ta lạnh ngắt. Một người hiện đại như ta từng sống trong một xã hội ngập tràn lý tưởng về tự do và nhân quyền, giờ đây phải cúi đầu trước trật tự tàn bạo của thế giới này, tự bán mình làm nô lệ cho đồng tiền chỉ để đổi lấy hơi thở thoi thóp của người thân.
Mùa đông năm ấy đến sớm và nghiệt ngã hơn mọi năm.
Tuy vết thương của mẹ đã khép miệng nhưng để lại những vết sẹo lồi lõm màu đỏ xám ghê rợn kéo dài từ má trái xuống tận ngực. Cánh tay trái của bà bị co rút cơ, vĩnh viễn không thể nhấc lên quá ngực, cũng không thể dùng lực để nhào bột hay gánh nước được nữa. Bà trở thành một người tàn phế, suốt ngày chỉ có thể ngồi trong góc tối của túp lều, dùng một chiếc khăn vải dày che khuất nửa khuôn mặt để tránh làm người khác sợ hãi.
Mỗi khi đêm xuống, khi gió rít qua khe hở của vách tre, mẹ lại ôm chặt lấy vết sẹo đau nhức, khóc không thành tiếng. Bà không oán hận vị khách trong đêm mưa ấy, bà chỉ trách số mệnh nhà họ Lục quá mỏng manh.
Còn đệ đệ Tiểu Vũ, nỗi đau của nó nằm sâu trong tâm trí. Sáu tuổi, đứa trẻ từng lém lỉnh chạy quanh bếp, giờ đây lại chỉ ngồi im lặng như một cái bóng vô hình. Bi kịch lớn nhất của Tiểu Vũ là chứng sợ lửa. Mỗi khi ta nhen củi để nấu cháo, nhìn thấy đốm lửa nhỏ bùng lên từ gậy đánh lửa, Tiểu Vũ lại hét lên một tiếng trong cổ họng. Nó sẽ điên cuồng bò vào góc tối nhất của túp lều, hai tay ôm chặt lấy đầu, toàn thân co rúm, run rẩy kịch liệt như đang phải đối mặt với quỷ dữ. Đôi mắt trừng to, mồ hôi vã ra như tắm, nhưng tuyệt nhiên không thể phát ra một âm thanh nào. Ngay cả gọi người thân cũng không có.
Nhìn đệ đệ như vậy, tim ta như có ngàn mũi dao đâm. Ta phải dập tắt lửa, ôm lấy thân hình nhỏ bé đang run rẩy của đệ ấy, vỗ về suốt cả canh giờ cho đến khi đệ ấy thiếp đi vì kiệt sức.
Để nuôi sống ba miệng ăn và trả khoản nợ cắt cổ của phường Đại Hưng, ta không thể gục ngã. Đôi tay ta chưa lành hẳn vết bỏng, da thịt chưa kịp lên da non chạm vào nước lạnh là đau buốt đến tận xương, nhưng ta vẫn phải thức dậy từ canh ba làm hết mọi việc.
Mẹ không thể lộ mặt, đệ đệ sợ lửa, tất cả gánh nặng của gánh mì nay đè nặng lên đôi vai gầy của một cô gái mười ba tuổi.
Không có tiền thuê cửa hàng, ta dùng những mảnh gỗ nhặt nhạnh được đóng thành một chiếc xe đẩy nhỏ lỏng lẻo. Hằng đêm, một mình ta đẩy chiếc xe ấy ra góc đường, đặt lên đó một chiếc bếp lò nhỏ, một nồi nước dùng ninh từ những mẩu xương vụn mà ta mua được với giá rẻ từ lò mổ cuối ngày.
"Mì nóng đây... Năm đồng một bát mì thủ công đây..." Giọng ta khản đặc vang lên giữa tiết trời đông giá lạnh.
Gió tuyết thổi bay mái tóc xơ xác, cũng thổi vào đôi bàn tay đang nứt nẻ chảy máu. Những đêm đông buốt giá, khách khứa thưa thớt, có những ngày ta đứng hứng gió suốt ba canh giờ liền chỉ bán được hai bát mì, đổi lại được mười đồng tiền đẫm tuyết. Số tiền đó, một nửa phải cắn răng đem nộp cho đám lưu manh phường Đại Hưng đến đòi nợ mỗi tuần, phần còn lại chỉ vừa đủ mua vài cân bột mì loại thô và vài củ cải muối để ba mẹ con ăn cầm hơi.
Có những lúc đứng bên gánh mì đêm vắng, nhìn những chiếc xe ngựa sang trọng của các quan đại nhân lướt qua, tiếng cười nói vui vẻ từ các tửu lâu xa hoa vọng lại, ta tự hỏi bản thân: Ý nghĩa của việc ta xuyên không đến thế giới này là gì?
Để chịu đựng cái đói, cái lạnh và sự sỉ nhục này sao? Để chứng kiến gia đình mình bị hủy hoại chỉ vì một dòng chữ trong một quyển sách sao? Không. Ta không chấp nhận. Ta phải sống. Ta phải nuôi lớn Tiểu Vũ, phải chữa trị cho mẹ. Ta phải dùng chính sự kiên cường của một kẻ qua đường để chứng minh cho cái thế giới tàn bạo này thấy rằng, mạng sống của chúng ta không phải là cỏ rác, cũng chẳng phải kiến hôi
Thời gian trôi qua như bóng câu qua cửa sổ, thấm thoắt đã ba năm kể từ đêm đại hỏa hoạn ấy.
Nhờ vào sự tỉ mẩn, kiên trì và công thức nước dùng cải tiến từ kiếp trước, gánh mì đẩy của ta dần dần có tiếng ở khu dân nghèo phía Tây. Người ta thương cảm cho hoàn cảnh của cô gái nhỏ kiên cường, lại chuộng vị mì ngọt thanh đậm đà từ xương và củ cải của ta, nên quán ngày một đông khách.
Đến năm ta mười sáu tuổi, rốt cuộc ta đã trả sạch cả gốc lẫn lãi cho phường Đại Hưng, chuộc lại tờ văn tự bán thân. Không chỉ vậy, ta còn tích cóp được một khoản tiền nhỏ, thuê lại một gian nhà ngói ba gian chắc chắn ở sâu trong ngõ hẻm để dời gánh mì vào trong nhà.