Chương 1
C1
Ta xuyên vào một quyển tiểu thuyết năm mười tuổi.
Không phải hoàng thân quốc thích, chẳng phải tiểu thư khuê các, lại càng không phải nữ phụ độc ác hay bạch nguyệt quang đoản mệnh của nam chính. Thân phận của ta ở thế giới này gói gọn trong năm chữ: Con gái nhà bán mì.
Khi nhận ra mình đã trở thành một đứa trẻ mười tuổi tên A Trúc đang ngồi xổm bên chính diện một gian quán xập xệ ngập mùi dầu mỡ, việc đầu tiên ta làm không phải là khóc lóc hay hoang mang, mà là lật tìm trong trí nhớ kiếp trước xem có chút manh mối nào về gia đình này không. Kết quả khiến ta lạnh toát sống lưng.
Trong cuốn tiểu thuyết quyền mưu vương triều dài hàng trăm chương mà ta từng đọc, gia đình bốn mạng người của ta chỉ xuất hiện đúng một lần ở chương thứ mười lăm. Đó thậm chí không phải là một tình tiết, mà chỉ là một dòng miêu tả bối cảnh vô thưởng vô phạt gồm mười sáu chữ: “Quan binh truy bắt thích khách, lửa cháy đến quán mì nhà họ Lục ven đường.”
Chỉ bấy nhiêu thôi. Mười sáu chữ.
Đối với độc giả, đó chỉ là một cái lướt tay qua trang sách, là một câu văn chuyển cảnh để làm nổi bật sự nguy hiểm và kịch tính trong cuộc trốn chạy của nam chính. Nhưng đối với ta, khi nhìn thấy đôi bàn tay thô ráp đầy vết chai của cha đang nhào bột, nhìn thấy nụ cười hiền hậu của mẹ dưới ánh đèn tù mù, và tiếng cười giòn tan của đệ đệ Tiểu Vũ mới ba tuổi đang lẫm chẫm chạy quanh... mười sáu chữ ấy chính là máy chém vô hình treo lơ lửng trên đầu.
Trong sách, đó là một câu kể. Ngoài cuốn sách, đó là cả một đời người.
Người ta thường nói, biết trước kịch bản chính là bàn tay vàng lớn nhất của người xuyên không. Nhưng bọn họ không biết rằng, đối với một đứa trẻ mười tuổi ở tầng lớp đáy xã hội phong kiến, việc biết trước bi kịch mà không thể trốn chạy mới là thứ hình phạt tàn nhẫn nhất.
"A Trúc, vào ăn bát mì nóng cho ấm bụng. Gió mùa về rồi, ngoài đường lạnh lắm."
Tiếng gọi của Lục thúc cha ta vang lên từ gian ngoài. Giọng ông trầm ấm, hơi khàn. Ta vén lên tấm rèm vải thô chắp vá mấy mảnh rồi đi ra ngoài. Gian quán nhỏ chỉ kê vừa bốn chiếc bàn gỗ đã lung lay, mặt bàn cũng đã sờn màu theo năm tháng.
Cha ta đang đứng bên nồi nước dùng bốc khói nghi ngút. Đôi bàn tay ông to bè, thô ráp, các khớp ngón tay sưng đỏ vì ngâm nước lạnh và nhào bột suốt mấy chục năm qua. Thấy ta, ông mỉm cười, nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại vào nhau, vô cùng hiền từ. Ông múc một bát mì đầy đặn, rắc lên trên một vốc hành hoa xanh mướt và vài miếng tóp mỡ vàng rụm, ấy là thứ đồ xa xỉ mà ông luôn nhường cho hai tỷ đệ chúng ta.
Mẹ ta đang ngồi ở chiếc bàn nơi góc khuất, vừa ho khẽ vừa khâu lại chiếc áo bông cũ cho Tiểu Vũ. Gương mặt bà lúc này vẫn còn nguyên vẹn, tuy làn da sạm đi vì sương gió nhưng đường nét rất thanh tú, dịu dàng. Bà ngẩng đầu lên, ánh mắt ngập tràn yêu thương:
"Ăn nhanh đi con, kẻo sợi mì trương mất, không còn ngon nữa."
Dưới chân mẹ, đệ đệ Tiểu Vũ của ta mới ba tuổi, mập mạp, lanh lợi. Thấy ta có mì ăn, nó lập tức bò nhào tới, bấu chặt lấy gấu áo ta, cái miệng nhỏ ríu rít không ngừng:
"Tỷ... tỷ... ăn... ăn vụng!"
Ta bật cười, bế Tiểu Vũ lên đùi, gắp một sợi mì thổi cho thật nguội rồi đút vào cái miệng há hốc như chim non của đệ ấy. Cảnh tượng này ấm áp biết bao, bình yên biết bao. Nồi nước dùng của cha ta được ninh từ xương ống ở quầy thịt lúc cuối chợ, thêm vài lát gừng già và đại hồi, vị ngọt thanh, đượm mùi khói bếp. Đây chính là thế giới của ta. Không có tranh quyền đoạt vị, không có hào quang Hoàng tộc, chỉ có ba bữa cơm no, có cha, có mẹ, có đệ đệ nói cười khúc khích.
Nhưng cứ mỗi lần nhìn thấy ngọn lửa đỏ rực liếm dưới đáy nồi nước dùng, lòng ta lại thắt lại.
Năm nay ta mười tuổi. Biến cố mười sáu chữ kia sẽ xảy ra vào mùa xuân năm ta mười ba tuổi, tức là ba năm nữa. Ta có ba năm để đưa gia đình này rời khỏi phố Thanh Hà - con đường huyết mạch dẫn thẳng ra cửa Tây kinh thành, nơi mà nam chính nguyên tác Tiêu Dực sẽ ghé qua trong cuộc trốn chạy khỏi sự truy sát của phe phản diện.
Ta không muốn chết. Ta lại càng không muốn cha ta biến thành một bộ xương khô trong đống tro tàn, không muốn mẹ ta phải mang nửa khuôn mặt sẹo lồi lõm sống nhục nhã qua ngày, không muốn Tiểu Vũ đang hoạt bát thế này lại biến thành một đứa trẻ câm lặng, suốt đời co rúm mỗi khi nhìn thấy một đốm lửa nhỏ.
Ta phải thay đổi hiện thực. Phải kiếm thật nhiều tiền để dời quán mì này đi nơi khác.
Trong suốt hai năm tiếp theo, ta điên cuồng tìm cách kiếm tiền. Nhiều người đọc truyện xuyên không thường nghĩ đến những thứ đao to búa lớn như chế tạo xà phòng, chưng cất rượu mạnh, hay làm nước hoa. Nhưng hiện thực tát thẳng vào mặt khiến ta tỉnh táo. Nhà ta nghèo khó đến mức này. Tiền mua bột mì hằng ngày còn phải đong đếm từng đồng, lấy đâu ra vốn để mua mỡ heo làm xà phòng, lấy đâu ra dụng cụ để chưng cất rượu? Hơn nữa, ở cái thời đại vương quyền trị vì này, một đứa trẻ nghèo khổ đột nhiên phát minh ra những thứ lạ lùng, thứ chờ đợi gia đình ta không phải là giàu sang, mà là tai họa phủ đầu từ những kẻ quyền quý có lòng tham vô độ.
Vì vậy, ta chọn cách thực tế nhất, chính là cải tiến quán mì của cha. Ta nhớ lại những công thức nấu ăn từ thời hiện đại. Ta bảo cha thay đổi tỷ lệ nhào bột, cho thêm chút muối và nước tro tàu tự chế để sợi mì dai hơn, ngậm nước hơn. Ta tự vào rừng hái thêm những loại thảo mộc mà người bản địa coi là cỏ dại nhưng thực chất là gia vị tuyệt hảo để ninh nước dùng. Ta còn làm thêm món mì tương đen và mì trộn chua cay từ những nguyên liệu rẻ tiền như củ cải muối và dấm bỗng.
Công thức cải tiến của ta thực sự có hiệu quả. Quán mì nhỏ ở góc ngõ hẻm phía Tây kinh thành bắt đầu đông khách hơn. Những phu khuân vác, những người phu xe ngựa, thậm chí cả vài ba vị thư sinh nghèo cũng chịu khó đi bộ thêm một đoạn đường để đến ăn bát mì năm đồng của nhà họ Lục.
Mỗi ngày, nhìn những đồng tiền rơi vào hũ gốm kêu leng keng, lòng ta lại dâng lên một tia hy vọng. Ta nhẩm tính, cứ đà này, chỉ cần thêm hai năm nữa, nhà ta sẽ tích góp đủ hai mươi lượng bạc để thuê một gian nhà nhỏ ở khu Nam thành cách xa tai mắt của những cuộc thanh trừng. Nhưng ta đã quá ngây thơ khi đánh giá thấp cái nghèo và sự tàn khốc của thời đại này.
Khi quán mì bắt đầu có chút khởi sắc, rắc rối cũng theo đó mà kéo đến. Đầu tiên là những kẻ lưu manh bặm trợn ở phố Tây. Chúng đến quán, đập bàn rầm rầm, đòi tăng tiền bảo kê từ mười đồng mỗi tháng lên năm mươi đồng. Cha ta là người thật thà, chỉ biết khom lưng uốn gối, chắp tay cầu xin, dâng lên những bát mì đầy ắp thịt và những đồng tiền đong đầy mồ hôi nước mắt để đổi lấy sự bình yên cho vợ con.
Chưa hết, mùa thu năm đó, quan phủ đột nhiên ban lệnh tăng thuế chợ để gom tiền cứu trợ thiên tai ở phía Bắc. Mỗi bát mì bán ra, số tiền thuế phải nộp tăng lên gấp đôi.
Đỉnh điểm của sự tuyệt vọng là trận hạn hán năm tiếp theo. Mất mùa liên miên, giá lúa mì và bột mì trên thị trường tăng vọt gấp ba lần. Những người phu nghèo không còn tiền để ăn mì, họ phải nhịn đói hoặc ăn cháo cám qua ngày. Gian quán của nhà ta lại trở nên vắng vẻ.
Đêm muộn, ta ngồi bên chiếc bàn gỗ lung lay, đổ hết tiền trong hũ gốm ra đếm. Hai năm rưỡi qua, trừ tiền thuế, tiền bảo kê, tiền thuốc cho cha mẹ và tiền mua bột mì giá cao, số tiền chúng ta tiết kiệm được vỏn vẹn chưa đầy hai lượng bạc.
Hai lượng bạc. Thậm chí còn không đủ tiền đặt cọc thuê một góc chuồng ngựa ở Nam thành.
Ta nhìn vệt sáng leo lét từ ngọn đèn dầu, nước mắt không tự chủ được rơi lã chã xuống những đồng tiền xỉn màu. Tại sao? Tại sao ta đã cố gắng hết sức, đã thức khuya dậy sớm, gồng hết sức mình, vậy mà vẫn không thể thoát khỏi cái vòng lặp của số phận này? Mười sáu chữ kia giống như một chiếc lưỡi hái tử thần treo lơ lửng trên đầu, mỗi ngày trôi qua là một ngày chiếc lưỡi hái ấy hạ thấp xuống một chút.
Cha ta đi vào, thấy ta khóc, ông hốt hoảng ngồi xuống bên cạnh, dùng đôi bàn tay thô ráp lau nước mắt cho ta:
"A Trúc, sao thế? Có phải trong người không khỏe ở đâu không? Đừng lo, tiền bạc dẫu thiếu thốn, nhưng chỉ cần cha còn sức gánh nước nhào bột, cha nhất định không để ba mẹ con phải chịu đói khát."
Bàn tay cha ấm áp, mùi mồ hôi trộn lẫn mùi bột mì trên người ông khiến ta cảm thấy nghẹt thở vì đau xót. Ta ôm chặt lấy cổ ông, khóc nấc lên:
"Cha ơi, chúng ta chuyển đi nơi khác được không? Đi đâu cũng được, rời khỏi Kinh thành này có được không?”
Cha ta ngẩn người rồi thở dài, vỗ nhẹ vào lưng ta, cho rằng ta chỉ là đứa trẻ lo lắng viển vông:
"A Trúc ngoan, đất khách quê người biết sinh sống thế nào? Quán mì này là tổ tiên để lại, tuy nghèo nhưng ít ra chúng ta còn có cái nhà che mưa che nắng. Chuyển đi rồi, chúng ta lấy gì nuôi sống bản thân, lấy gì mua thuốc cho mẹ con? Nghe lời cha, đi ngủ sớm đi."
Ta buông cha ra, thẫn thờ nhìn bóng ông đổ dài trên vách tường đất nứt nẻ. Ta hiểu rồi. Đối với những người dân đen như chúng ta, việc rời bỏ mảnh đất quen thuộc để đi đến một nơi xa lạ khi trong tay không có tiền, chẳng khác nào tự sát. Họ thà bám trụ lấy cái nghèo quen thuộc còn hơn là dấn thân vào cái chết chưa thể định hình.
Mùa xuân năm ta mười ba tuổi rốt cuộc cũng đến.
Tháng Ba. Theo trí nhớ của ta về nguyên tác, đây là thời điểm Tiêu Dực thực hiện cuộc binh biến Kinh thành, ám sát Nhiếp Chính Vương nhưng thất bại, bị truy sát trốn chạy qua cửa Tây.
Thời hạn đã cận kề. Mỗi ngày trôi qua đối với ta giống như một cuốn phim đếm ngược. Ta không ngủ được, mắt thâm quầng, tai luôn căng lên nghe ngóng mọi tiếng động ngoài đường phố.
Ngày mười bốn tháng Ba. Bầu trời âm u, mây đen giăng kín lối, không khí oi bức đến nghẹt thở như báo hiệu một trận bão lớn sắp sửa đổ ập xuống Kinh thành. Ta biết, chính là đêm nay.
Để ngăn chặn bi kịch, ta đã chuẩn bị một kế hoạch cuối cùng. Từ sáng sớm, ta đã trùm chăn kín đầu, rên rỉ đau đớn. Ta dùng vải nóng áp vào trán để làm trán mình nóng lên.
Mẹ sờ trán ta, hốt hoảng kêu lên: "Trời ơi, nóng thế này! Ông ơi, A Trúc bị sốt cao rồi!"
Cha ta buông thanh củi đang chẻ dở xuống rồi vội vàng chạy vào phòng. Ông nhìn gương mặt nhợt nhạt và những vệt mồ hôi rịn ra trên trán ta thì vô cùng đau lòng.
"Cha... Mẹ..." Ta thều thào, giọng yếu ớt.
"Con mệt lắm... Toàn thân đau nhức... Đêm nay, cha mẹ đừng mở hàng được không? Ở lại với con... Con sợ lắm..."
Cha ta không hề do dự, gật đầu lia lịa: "Được, được! Hôm nay chúng ta đóng cửa, không bán buôn gì hết. Cha đi mời đại phu ngay."
"Không cần đại phu đâu cha, con chỉ cần nằm nghỉ thôi. Cha mẹ đừng nhóm bếp, mùi khói làm con hơi nhức đầu. Cứ tắt hết lửa, đóng chặt cửa lại..."
Ta thều thào căn dặn. Chỉ cần không nhóm bếp lửa, chỉ cần cửa đóng then cài, quán mì sẽ chìm trong bóng tối. Quan binh và thích khách sẽ bỏ qua một ngôi nhà hoang vắng không có bóng người. Ta tự nhủ như vậy.
Cha ta nghe theo, ông ra ngoài dập tắt đốm lửa nhỏ trong bếp, cài chặt chốt cửa trước và cửa sau. Gian ngoài của quán mì chìm vào sự yên tĩnh. Nằm trong phòng tối, ta thở phào một hơi nhẹ nhõm, cảm giác chiến thắng vỡ òa trong lồng ngực. Ta đã làm được rồi! Ta đã xoay chuyển được mười sáu chữ kia. Đêm nay quán mì không đỏ lửa. Nhà ta sẽ an toàn qua đêm định mệnh này.
Thế nhưng, dường như ông trời rất thích trêu đùa số phận của những kẻ nhỏ bé.
Đến canh ba, trời đổ mưa như trút nước. Tiếng sấm chớp đùng đoàng rạch ngang bầu trời đêm, gió rít qua từng khe cửa nghe như tiếng khóc than của quỷ dữ.
Giữa tiếng mưa gió bão bùng ấy, đột nhiên có tiếng đập cửa dồn dập vang lên từ phía trước.
Ầm! Ầm! Ầm!
"Lục thúc! Lục thẩm! Cứu mạng với!"
Tiếng kêu cứu thất thanh của thím Trương nhà bên cạnh vang lên. Thím Trương là một góa phụ, sống cùng đứa con trai năm tuổi trong căn nhà tranh xập xệ nhất ngõ. Cha ta giật mình tỉnh giấc, vội vàng khoác áo chạy ra ngoài. Ta cũng bật dậy, trong lòng dâng lên một điềm báo kinh hoàng. Ta chạy theo cha ra đến gian ngoài.
Qua khe cửa, cha ta cất cao giọng hỏi: "Thím Trương, có chuyện gì thế?"
"Mái nhà của chúng ta bị sập rồi. Nước mưa tràn vào hết, thằng bé bị xà gỗ đè trúng chân, chảy nhiều máu quá! Xin hai người cho chúng ta vào trú tạm một đêm, nếu không thằng bé chết rét mất.”
Tiếng khóc rấm rứt của đứa trẻ năm tuổi hòa lẫn vào tiếng mưa xối xả. Cha ta là người thế nào? Ông là một người làm ăn lương thiện, chất phác, cả đời chưa từng thấy chết mà không cứu. Nghe thấy hai người gặp nạn, làm sao ông có thể khoanh tay đứng nhìn?
"Cha! Đừng mở cửa!" Ta lao đến, bấu chặt lấy tay ông, giọng lạc đi vì hoảng sợ.
"Con xin cha, đêm nay đừng mở cửa cho bất kỳ ai!"
Cha ta nhìn ta đầy kinh ngạc, ánh mắt ông có chút nghiêm khắc xen lẫn đau lòng:
"A Trúc, sao con lại nói thế? Thím Trương là hàng xóm tốt của nhà ta, ngày thường vẫn hay cho con củ khoai củ sắn. Thằng bé còn nhỏ thế, ngoài trời lạnh như vậy, nếu không giúp đỡ thì bọn họ phải làm sao đây."
"Nhưng..." Ta nghẹn họng. Ta không thể nói cho cha biết rằng ngoài kia đang có tử thần rình rập.
Cha ta nhẹ nhàng gỡ tay ta ra: "Ngoan, vào phòng đi. Cha chỉ cho họ vào trú mưa thôi."
Nói rồi, cha ta dứt khoát rút then cài, mở rộng cánh cửa. Gió mưa hắt mạnh vào trong nhà, mang theo hơi lạnh thấu xương. Cả người thím Trương ướt sũng, run lên bần bật, trên tay ôm đứa bé chân đang chảy máu đầm đìa bước vào. Mẹ ta cũng đã thức dậy, vội vàng lấy vải sạch ra băng bó cho đứa trẻ. Nhìn môi đứa bé tím tái vì lạnh, cha ta xót xa nói:
"Nhà lạnh thế này không ổn, đứa trẻ sẽ không chịu nổi. Để ta nhóm bếp lửa lên, đun nồi nước gừng cho hai người uống ấm bụng."
"Không! Cha đừng nhóm lửa!" Ta hét lên, thanh âm chói tai vang vọng trong gian quán nhỏ.
Tất cả mọi người đều quay lại nhìn ta với ánh mắt kỳ lạ. Tiểu Vũ bị tiếng hét của ta làm giật mình, khóc thét lên trong lòng mẹ.
Cha ta nhíu mày, giọng trầm xuống: "A Trúc, hôm nay con làm sao thế? Bình thường con là đứa trẻ hiểu chuyện nhất mà? Nhóm lửa nấu bát nước gừng có gì mà con phải như vậy?"
"Cạch."
Tiếng gậy đánh lửa vang lên trong bóng tối. Một tia lửa nhỏ nhảy nhót rồi bùng lên, liếm vào nắm lá khô, bén vào những thanh củi già. Bếp lại đỏ lửa. Đốm lửa ấy nhanh chóng bén vào đống củi khô dưới bếp, tỏa ra hơi ấm và ánh sáng màu cam rực rỡ. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt hiền từ, đầy vết chân chim của cha, hắt lên bóng dáng tháo vát của mẹ đang thái gừng, hắt lên khuôn mặt ngây thơ của đệ đệ Tiểu Vũ đang tò mò nhìn đứa em nhỏ. Nồi nước gừng bắt đầu bốc hơi nghi ngút.
Quán mì cập xệ vốn lạnh lẽo giờ đây tràn ngập hơi ấm. Nhưng đối với ta, ánh lửa kia chính là ngọn hải đăng gọi quỷ dữ đến nhà. Ta lùi lại một bước, ngã ngồi trên nền đất lạnh, hai tay ôm đầu.
Trận chiến kéo dài ba năm của ta, rốt cuộc đã thất bại hoàn toàn trước lòng thiện lương chất phác của cha ta. Ông không phải là một vĩ nhân, ông chỉ là một người bán mì nghèo khổ, nhưng ông có một trái tim biết đau trước nỗi đau của đồng loại. Và chính trái tim ấy, trớ trêu thay, lại là thứ đẩy ông vào chỗ chết.
Bên ngoài, tiếng mưa rơi vẫn gầm rú. Giữa tiếng sấm chớp đùng đoàng trong đêm mưa gió, tai ta nhạy bén nghe thấy một tiếng động khác, tiếng động của một vật nặng ngã khuỵu xuống ngay trước cửa sau của quán mì, kèm theo mùi máu tanh nồng nặc bị nước mưa pha loãng.
Thời khắc ấy đã đến. Vị thích khách mang thân phận Hoàng tộc, nam chính của thế giới này đã gõ cửa nhà chúng ta.