Chương 1

C1

Chương 1:

Kinh thành vào những năm tháng ấy, nhìn từ xa tựa như một bức tranh thủy mặc khổng lồ cuộn tròn trong sương khói mờ ảo. Người ta thường ca tụng sự phồn hoa của dải sông Tần Hoài, sự thanh cao của những vương tôn công tử khoác áo gấm cưỡi ngựa trắng đi qua các đường lớn, hay những nàng thiên kim khuê các giấu mình sau rèm châu.

Nhưng đối với An Tố, Kinh thành chỉ gói gọn trong mùi nồng hắc của da thuộc, mùi hôi của hồ dán và tiếng đe búa lạch cạch đều đặn từ sáng sớm đến tối mịt.

Cha nàng là một thợ đóng giày ở ngõ Liễu Ngạn. Ông chỉ biết làm sao để đường khâu trên thân giày thật bén, gót giày thật chắc để người phu khuân vác đi cả năm không rách, người phu xe lội bùn không thấm nước. Ông biết chữ, và cũng chính ông là người dạy An Tố học chữ. Không biết có phải vì gánh nặng cơm áo khiến ông phải quên đi giấc mơ của riêng mình hay không. An Tố lớn lên dưới bóng lưng còng của cha, từ nhỏ tay nàng đã ám mùi sáp nến dùng để chuốt chỉ khâu. Mẹ nàng mất sớm, ký ức về bà trong lòng nàng nhạt nhòa như một vệt sương sớm, chỉ ngoại trừ một đêm đông lạnh giá khi nàng lên mười.

Đêm đó, mẹ ho dữ dội, lồng ngực phập phồng dưới lớp chăn mỏng. Bà gọi nàng lại gần, lùa bàn tay gầy guộc, khô ráp vào dưới gối, lấy ra một chiếc hộp bằng gỗ tùng nhỏ xíu đã lên nước bóng loáng. Bên trong chiếc hộp là một cây trâm ngọc bích trơn nhẵn, không hề chạm khắc hoa văn mỹ miều, nước ngọc xanh thẫm, lạnh lẽo. Điểm đặc biệt duy nhất là ở phần đuôi trâm có một vết rạn nhỏ tự nhiên hình chiếc lá.

Mẹ đặt cây trâm vào lòng bàn tay nhỏ bé của An Tố, giọng bà thều thào nhưng từng câu từng chữ vẫn rất rõ ràng.

"An Tố, kiểu người như chúng ta giống như cỏ rác bên vệ đường, một trận gió lớn cũng có thể thổi bay. Chúng ta có thể mất tiền, có thể mất nhà, thậm chí có thể gặp năm mất mùa mà chịu đói khát. Nhưng có một thứ, cho dù chết cũng không được để mất, đó là chữ tín. Mất chữ tín, cái gốc làm người sẽ thối rữa.”

“Cây trâm này là của hồi môn bà ngoại con để lại cho ta. Bây giờ ta trao lại cho con.”

Lời răn dạy của cha mẹ đã nhào nặn nên một Thẩm An Tố kiên cường và thực tế. Nàng nghĩ, bản thân không mong cầu một phu quân vinh hoa phú quý, chỉ cầu một người có thể cùng nàng đi qua giông bão với tấm lòng ngay thẳng, trọng chữ tín.

Sau khi mẹ mất, nhận thấy An Tố có năng khiếu thêu thùa nên cha chắt bóp cho nàng theo học ở phường thêu. Ông nói có được ngón nghề trong tay sẽ không sợ chết đói. Dựa vào ai cũng không bằng dựa vào chính mình.

Năm An Tố mười mười sáu tuổi, cha nàng qua đời sau một trận ho kéo dài, sức khỏe ngày càng kiệt quệ. Nàng bán đi chiếc đe búa cũ, dọn dẹp lại gian nhà nhỏ, dựng một sạp đồ thêu ở đầu ngõ để tự nuôi sống bản thân. Nàng lặng lẽ làm việc từ sáng sớm khi sương chưa tan đến khi đèn dầu trong ngõ lụi tắt. Đó cũng là lúc Đường Hoài Ngọc bước vào cuộc đời nàng.

Gia cảnh nhà họ Đường khi ấy thuộc tầm trung trong Kinh thành. Cha của Đường Hoài Ngọc từng làm một chức lại quan nhỏ chuyên quản lý sổ sách trong phủ doãn, tuy bổng lộc không nhiều nhưng danh tiếng thanh bạch, gia đình xuất thân thư hương. Đường Hoài Ngọc là thư sinh có tiếng hiếu học, ngũ quan tuấn tú, ôn hòa của người đọc sách Thánh hiền nhiều năm.

Hắn thường mang những bộ trường bào bị sờn rách ở cổ áo hoặc vạt áo đến nhờ An Tố khâu vá. Khác với những công tử có chút tiền thường nhìn An Tố bằng ánh mắt khinh miệt của kẻ bề trên, Đường Hoài Ngọc luôn kiên nhẫn đứng đợi, không một lời oán thán. Hắn đứng dưới sạp vải của nàng, khi thì cầm một cuốn sách đọc lẩm nhẩm, khi thì lặng lẽ nhìn những ngón tay thon dài nhưng có vài vết chai của nàng đưa kim thoăn thoắt.

Mối nhân duyên của họ cứ thế lớn dần qua những buổi chiều mưa mùa hạ. Khi nước xối xả trên mái hiên mỏng manh, Đường Hoài Ngọc sẽ chu đáo dịch người ra phía ngoài để che bớt những hạt mưa hắt vào khay chỉ của nàng.

Điều khiến An Tố cảm động và đồng ý gả cho Đường Hoài Ngọc, thực ra không phải vì tài học của hắn, cũng không phải vì xuất thân gia đình trong sạch. Nàng gật đầu là vì sự thẳng thắn đến mức có phần vụng về của hắn vào ngày hắn mang sính lễ đến.

Hôm đó, Đường Hoài Ngọc mặc một bộ trường bào màu xanh xám còn mới, nhưng hai tay đan vào nhau lại khẽ run rẩy. Hắn nhìn An Tố, bỏ qua tất cả những lời hoa mỹ, khách sáo mà bà mối đã chuẩn bị sẵn. Hắn bước lên trước, cúi đầu thật thấp rồi thẳng thắn mở lời:

"An cô nương, nhà ta gia cảnh bình thường. Cha ta làm quan thanh liêm, bổng lộc chỉ đủ chi tiêu trong phủ và thuốc thang cho mẹ. Bản thân ta chưa đỗ đạt, tiền mua giấy mực nghiên bút đều là một khoản chi lớn từ tiền tích góp của gia đình. Nếu cô nương gả cho ta, sau này e rằng phải chịu khổ cùng ta, chưa có lụa là gấm vóc, cũng không có người hầu kẻ hạ. Cô nương... có bằng lòng không?"

An Tố ngồi sau bàn, nhìn vào đôi mắt chứa đầy sự lo lắng nhưng vô cùng chân thành của hắn. Trong mắt nàng, lời thú nhận ấy của Đường Hoài Ngọc quý giá hơn bất kỳ hòm vàng thước ngọc nào. Hắn không dùng vẻ hào nhoáng bên ngoài để lừa gạt nàng, hắn tôn trọng nàng bằng cách phơi bày gia cảnh thực sự của mình. Đây chính là khởi đầu của một mối quan hệ bình đẳng mà nàng hằng mong ước.

Nàng đứng dậy, vuốt lại vạt áo vải thô cũ kỹ của mình, mỉm cười đáp:

"Đường công tử, ta cũng không phải thiên kim tiểu thư khuê các. Từ nhỏ ta đã quen với việc tự tay kiếm cơm ăn, sương gió đều đã trải qua rồi. Chỉ cần công tử không chê tay ta thô ráp, ta nguyện cùng công tử về chung một mái nhà, đồng cam cộng khổ."

Sau khi thành thân, cuộc sống trôi qua vô cùng êm đềm trong căn viện nhỏ nhà họ Đường. Đường Hoài Ngọc quả thật là một người phu quân chu đáo, hết lòng yêu thương thê tử. Hắn hiểu sự hy sinh của An Tố khi gả cho một thư sinh nghèo, nên luôn tìm cách bù đắp cho nàng bằng những hành động nhỏ nhặt nhưng đầy tình nghĩa.

Mỗi buổi sáng khi thức dậy đọc sách vào canh năm, hắn luôn nhẹ tay nhẹ chân, bước đi rón rén để không làm nàng tỉnh giấc. Đêm muộn khi An Tố ngồi thêu dưới ánh đèn dầu leo lét để kiếm thêm tiền phụ giúp chi tiêu trong phủ, Đường Hoài Ngọc sẽ lặng lẽ buông cuốn sách xuống, đi tới bên cạnh nàng. Hắn cầm cây kéo nhỏ, nhẹ nhàng cắt bớt phần bấc đèn đã cháy lụi để ánh lửa sáng hơn, giảm bớt sự mệt mỏi cho đôi mắt nàng. Hắn sẽ pha một tách trà hoa ấm, đặt vào lòng bàn tay lạnh ngắt của nàng, rồi nắm lấy bàn tay ấy, xót xa nói:

"An Tố, là ta bất tài, khiến nàng về nhà họ Đường rồi vẫn phải thức đêm thêu thùa vất vả thế này. Nàng yên tâm, ta đang dốc sức ôn luyện. Chờ kỳ thi năm tới, ta nhất định sẽ thi đỗ, đổi một căn nhà lớn hơn, mua cho nàng những bộ y phục tốt hơn, để nàng không phải chạm tay vào nước lạnh khi đông về nữa. Ta cũng sẽ phụng dưỡng cha mẹ thật tốt, để bà an hưởng tuổi già. Nàng có tin tưởng ta không?"

An Tố nhìn ngọn lửa đèn dầu phản chiếu trong đôi mắt ngập tràn hoài bão và tình yêu của Đường Hoài Ngọc, cõi lòng nàng chợt dâng lên ấm áp lạ thường. Nàng khẽ gật đầu, siết lấy tay hắn:

"Hoài Ngọc, ta tin chàng. Nhưng chàng đừng tạo áp lực quá lớn cho bản thân. Phu thê cùng nhau gánh vác, chàng lo việc học hành, ta lo việc nhà cửa, có gì mà vất vả đâu?"

Những lời hứa hẹn của Đường Hoài Ngọc lúc ấy hoàn toàn xuất phát từ tận đáy lòng. Hắn yêu nàng bằng thứ tình cảm nguyên sơ, thuần khiết nhất của một nam nhi chưa từng bị hiện thực cuộc sống vùi dập. Hắn muốn làm một phu quân hoàn hảo, một người con hiếu thảo, muốn chứng minh cho cả thế giới thấy rằng hắn có thể bảo vệ được những người mình yêu thương.

An Tố cũng dùng sự ngây thơ lý tưởng của một người trưởng thành để tin tưởng hắn tuyệt đối. Nàng cho rằng giữa phu thê kết tóc, lòng tin chính là bức tường kiên cố nhất, nàng không cần phải phòng bị, không cần phải nghi ngờ bất cứ điều gì từ hắn.

Thế nhưng, thế sự như bàn cờ, một nước cờ đi sai, cả bàn cờ đều đảo lộn. Thành hôn chưa đầy hai năm, tai họa liên tiếp ập xuống mái nhà nhỏ của họ như những nhát búa tàn nhẫn của số phận.

Đầu tiên là cha Đường Hoài Ngọc đột ngột lâm bệnh nặng. Căn bệnh quái ác đã bòn rút sạch sẽ những đồng bạc tích góp cuối cùng trong nhà. Để mua được những thang thuốc quý hiếm kéo dài mạng sống cho cha chồng, An Tố đã phải dốc cạn hòm xiểng, thậm chí bán đi vài món nữ trang bằng bạc ít ỏi mà cha nàng để lại. Nhưng mọi nỗ lực đều vô vọng, cha chồng qua đời vào một chiều thu ảm đạm. Tang lễ được tổ chức trong sự vội vã, nhà họ Đường phải gánh thêm một khoản nợ không nhỏ từ những chủ nợ.

Chưa kịp nguôi ngoai nỗi đau mất cha, một tin sét đánh khác từ triều đình truyền xuống. Do phe phái trong triều đình tranh đấu dữ dội, một vị đại thần đứng đầu ngành khảo thí bị bãi quan, kỳ thi khoa cử năm đó bị hoãn lại vô thời hạn để điều tra. Con đường tiến thân, hy vọng duy nhất để thay đổi số phận của Đường Hoài Ngọc lập tức bị chặt đứt.

Xui xẻo vẫn chưa dừng lại ở đó. Một trận hạn hán kéo dài rồi đến lũ lụt càn quét qua các tỉnh phía Bắc khiến mùa màng thất bát nghiêm trọng. Nạn đói kinh hoàng lan rộng với tốc độ chóng mặt, người tị nạn từ các châu phủ phía Bắc bắt đầu dắt díu nhau tràn vào cửa ngõ Kinh thành. Giá lương thực trong thành tăng vọt từng ngày, tiền tệ mất giá thảm hại. Một bao gạo trước đây chỉ có giá vài cắc bạc, nay tăng lên gấp mấy lần, thậm chí có tiền cũng không mua được gạo ngon.

Nhà họ Đường lập tức rơi vào cảnh túng quẫn trăm bề, ăn bữa nay lo bữa mai.

Đối mặt với biến cố lớn như vậy, bản lĩnh kiên cường của An Tố lập tức trỗi dậy. Nàng không khóc lóc, không ngồi một chỗ than thân trách phận hay oán trách ông trời bất công. Nàng hiểu rằng khóc không ra tiền, than vãn không ra gạo ăn. Việc đầu tiên nàng làm chính là xắn tay lên bắt đầu hành động.

An Tố tăng thêm giờ làm việc. Nàng đến các tiệm vải lớn trong thành, nhận những đơn hàng thêu thùa thâu đêm suốt sáng. Đôi mắt nàng vốn trong trẻo, giờ đây lúc nào cũng hằn lên những tia máu đỏ vì thiếu ngủ trầm trọng. Nàng nhận may vá thuê, nhận giặt giũ quần áo cho những gia đình giàu có ở khu phố phía Đông, bất kể mùa đông nước lạnh thấu xương khiến đôi bàn tay nàng nứt nẻ, rớm máu. Nàng tính toán chi li từng đồng từng cắc. Bữa ăn của gia đình từ ba món giảm xuống còn một món rau dưa, gạo trắng quý giá được nàng nhường hết cho mẹ chồng bồi bổ sức khỏe, còn nàng và Đường Hoài Ngọc ăn cám thô trộn lẫn với rau dại.

Nàng gồng gánh cả gia đình đang trên đà khánh kiệt ấy bằng đôi vai gầy của mình mà không một lời oán thán. Nàng nghĩ, đây chính là lúc nàng thực hiện lời hứa đồng cam cộng khổ cùng chàng năm xưa.

………..

Trong khi An Tố dốc toàn lực để chống đỡ ngôi nhà chung, nàng không nhận ra rằng, trong tâm lý của Đường Hoài Ngọc bắt đầu xuất hiện những vết rạn nứt.

Đường Hoài Ngọc không phải là một kẻ bạc tình ích kỷ bẩm sinh. Hắn vẫn là thư sinh muốn làm việc thiện, muốn che chở cho thê tử. Nhưng chính mong muốn làm người tốt, làm người hùng trong mắt mọi người ấy lại trở thành thứ xiềng xích bóp nghẹt tâm trí hắn khi hiện thực tàn nhẫn ập xuống.

Hắn chứng kiến người phụ nữ mình yêu phải thức thâu đêm suốt sáng đến gầy rộc cả người, gương mặt nàng ngày càng hốc hác, đôi bàn tay từng được hắn nâng niu nay đầy những vết kim đâm và thô ráp vì đằm trong nước lạnh, chỉ để kiếm từng đồng bạc nuôi sống hắn và mẹ hắn mỗi ngày. Mỗi miếng cơm hắn ăn, mỗi ngọn nến hắn thắp để đọc sách, đều được đổi bằng máu và mồ hôi của An Tố.

Lòng tự trọng của một người đàn ông trong hắn bị tổn thương sâu sắc. Hắn cảm thấy mình nhỏ bé, hèn nhát và vô năng. Hắn bắt đầu sợ phải đối diện với ánh mắt ấm áp, tràn đầy tin tưởng và bao dung của thê tử. Ánh mắt ấy không hề có sự oán trách, nhưng đối với Đường Hoài Ngọc, nó lại giống như một cái tát gián tiếp vào sự bất tài của bản thân mình.

Hắn bắt đầu nhốt mình trong phòng sách suốt cả ngày. Nhưng khi An Tố bước vào để đưa cho hắn chén nước ấm, nàng thấy trang giấy trước mặt hắn vẫn trắng tinh, mực trên nghiên đã khô tự bao giờ. Hắn ngồi thẫn thờ nhìn ra khoảng sân vắng, gương mặt u uất, rơi vào trầm mặc.

An Tố nghĩ rằng hắn đang lo lắng cho tiền đồ, đang u uất vì khoa cử bị đình trệ. Nàng cố gắng dịu dàng hơn, không bao giờ nhắc đến chuyện tiền bạc trước mặt hắn. Mỗi lần đưa tiền sinh hoạt cho hắn lo liệu việc mua giấy mực hoặc đi lại xã giao với các sĩ tử, nàng đều khéo léo nói:

"Hoài Ngọc, hiệu sách nói dạo này những bản chép tay trước đây của chàng bán rất được, đây là tiền công họ gửi trước cho tháng sau. Chàng cứ yên tâm mua sách tốt để ôn luyện, đừng lo nghĩ việc trong nhà."

Nàng muốn dùng sự chu toàn của mình để bảo vệ lòng tự trọng mong manh của hắn. Nhưng nàng không biết rằng, sự tin tưởng, không phòng bị của nàng lại chính là một dạng ngây thơ của người trưởng thành. Nàng cho rằng nếu ngay cả phu quân cũng phải đề phòng thì cuộc sống này còn gì là ý nghĩa? Nàng chọn cách không tra hỏi, không nghi ngờ những lần hắn đi xa.

Và chính sự không phòng bị ấy đã khiến nàng bỏ qua những dấu hiệu bất thường ngày một rõ rệt.

Đường Hoài Ngọc bắt đầu có những chuyến đi ra ngoài kéo dài một cách kỳ lạ. Có những ngày hắn rời nhà từ sáng sớm, nói là đến học xá của các đồng liêu cũ ở ngoại ô để mượn tài liệu hoặc tìm việc sao chép sổ sách kiếm thêm thu nhập. Khi trở về vào ban đêm, bộ dạng hắn luôn mệt mỏi, thất thần, áo quần xộc xệch.

Đặc biệt, trên người hắn bắt đầu thoang thoảng một mùi hương lạ, không phải mùi sáp nến hay mùi mực ngâm quen thuộc trong phòng sách của hắn, mà là một mùi thuốc nồng đậm, đắng ngắt, trộn lẫn với mùi khói bếp xuất phát từ loại củi mùn mà chỉ những khu lao động nghèo khổ nhất ở rìa Kinh thành mới sử dụng.

Có một buổi tối, khi An Tố cầm chiếc áo khoác của hắn lên để chuẩn bị mang đi giặt, nàng phát hiện ở phần gấu áo bị rách một đường lớn, vết rách thô bạo như thể bị quệt vào một bờ tường đá nhám đầy rêu phong. Nàng vừa thắp đèn cầm kim chỉ định vá lại, vừa thuận miệng hỏi:

"Hoài Ngọc, dạo này học xá có chuyện gì sao? Sao trông chàng lúc nào cũng như vừa đi một quãng đường dài vất vả như vậy? Trên áo lại còn có mùi thuốc rất nồng, chàng có chỗ nào không khỏe sao?"

Đường Hoài Ngọc đang ngồi bên bàn, nghe thấy câu hỏi của nàng thì giật mình thon thót. Hắn lập tức đứng bật dậy, thô bạo giật vạt áo từ tay nàng, ánh mắt né tránh, giọng nói có phần gắt gỏng bất thường:

"À... không có gì. Ta đã nói là đường xá tị nạn đông đúc, chen lấn nên mới bị rách. Còn mùi thuốc... là do ta đến nhà một vị đồng liêu, cha huynh ấy đang lâm bệnh nặng nên trong nhà quanh năm sắc thuốc, ám vào quần áo mà thôi. An Tố, nàng vất vả cả ngày rồi, đừng bận tâm đến mấy việc vặt vãnh này nữa, đi ngủ sớm đi!"

Nói rồi, hắn quay người bước vội vào phòng sách, đóng sầm cửa lại, để lại một mình Thẩm An Tố đứng ngơ ngác dưới ánh đèn dầu leo lét cùng cây kim sợi chỉ trên tay.

An Tố nhìn cánh cửa phòng sách đóng chặt, trong lòng thoáng qua một chút băn khoăn, một cảm giác bất an mơ hồ dâng lên trong lồng ngực. Nhưng sự băn khoăn ấy nhanh chóng bị gánh nặng cơm áo đè sụp xuống. Nàng lắc đầu, tự trách mình quá nhạy cảm và đa nghi. Phu quân nàng là người chính trực, hắn đi lại vất vả gian khổ bên ngoài cũng là vì gia đình này, làm sao nàng có thể có ý nghĩ nghi ngờ hắn cho được?

Nàng thổi tắt nến, tiếp tục cúi đầu bên khung thêu ở gian ngoài, dùng lòng tin tuyệt đối để khỏa lấp đi những bất thường nhỏ nhặt. Trong khi bão tuyết bên ngoài bắt đầu rục rịch nổi lên, báo hiệu một mùa đông tàn khốc nhất sắp sửa đổ xuống mái nhà nhỏ.