Chương 1
C1
Chương 1:
Làng Bình Thủy nằm lọt thỏm giữa một rẻo đất miền Trung du, nơi những cơn gió rát bỏng vào mùa hạ và cái rét căm căm thấu xương tủy vào mùa đông bủa vây quanh năm. Đất đai nơi đây bạc màu, xám xịt như tro tàn, còn con sông Thủy Bình chảy qua làng thì quanh năm đỏ quánh phù sa, nhưng chẳng mấy khi mang lại một mùa màng no ấm. Nghèo đói bám rễ sâu vào từng thớ đất, từng mái tranh dột nát, và tàn nhẫn hơn cả, nó bào mòn lòng trắc ẩn của con người, biến những lời ăn tiếng nói hằng ngày trở nên chát chúa.
Nhà họ Giang nằm ở đầu làng, ngay dưới bóng cây ngô đồng già quanh năm cằn cỗi, lá rụng xác xơ. Gian nhà chính lúc nào cũng phảng phất mùi vị mùi mực nghiên mốc thếch hòa lẫn với mùi thuốc bắc chua nồng. Cha Giang Ly là một người đàn ông cả đời chỉ biết đến lều chõng, từng hai lần lặn lội lên Kinh thi cử nhưng thứ duy nhất mang về lại là một chiếc rương gỗ đã bị mối mọt gặm nhấm mất một góc và cái danh hão "nho sinh nửa mùa". Ông nhìn cuộc đời này qua lăng kính của những trang sách cổ ố vàng, cũ kỹ.
Từ năm Giang Ly lên bảy tuổi, ông đã dùng cây thước gỗ gõ đau điếng lên mu bàn tay nàng, ép nàng phải học thuộc lòng những quy tắc khắt khe về tam tòng tứ đức, về bổn phận của một trưởng nữ. Nàng lớn lên giống như một cái bóng được cắt gọt vừa vặn với khuôn thước của cha, trở thành chuẩn mực của một thiếu nữ trong mắt các trưởng lão làng Bình Thủy.
Chúc Minh Yên không có một người cha ngồi trong buồng rên rẩm đọc sách thánh hiền. Cha mẹ nàng đã bị dòng nước lũ cuốn trôi trong trận lụt năm nàng mười tuổi, để lại một gian nhà tranh trống huếch và một vạt đất toàn đá sỏi hoang hóa. Mười bảy tuổi, Chúc Minh Yên trưởng thành như một cây cỏ dại vươn lên từ kẽ đá.
Nhóm phụ nữ trong làng đi chợ qua đều bĩu môi, nói chẳng ai lại đi phá hoại ruộng vườn tổ tiên để lại để đi trồng cái thứ cây kia cả. Mà cái thứ như cây dâu thì có vấn đề gì. Vấn đề là khi nó nằm trong tay một kẻ mồ côi, không người bảo hộ như Chúc Minh Yên. Bọn họ không nhìn vào những nong tằm óng ả hay công sức thức khuya dậy sớm của nàng. Họ chỉ nhìn vào việc nàng dám sòng phẳng cân đo đong đếm tiền bạc với đám thương nhân trên trấn, nhìn vào những đồng bạc nén lấp lánh trong tay một nữ tử chưa chồng.
Chúc Minh Yên nghe thấy hết, nghe không sót một từ. Nhưng nàng không khóc lóc tủi thân, cũng không thèm tranh cãi. Nàng chỉ cười, nụ cười nửa miệng lộ ra hàm răng trắng bóng đầy thách thức. Nàng xắn quần vải thô lên tận bắp đùi, lộ ra đôi chân trần vững chãi ngập trong bùn non, vừa hái lá dâu vừa cất giọng hát những câu ca phong tình mà nàng nghe lỏm được từ mấy tay chèo đò dọc trên sông Thủy Bình.
Quả thực người làng Bình Thủy thích nhất là hai việc: một là nhìn người tử tế rơi vào vũng bùn, hai là dùng nỗi khổ của kẻ này để gột rửa cho sự đố kỵ của kẻ khác.
Giang Ly và Chúc Minh Yên hiện lên như hai vệt màu đối chọi gay gắt, một bên là màu lam nhạt của sự nhẫn nhịn quy củ, một bên là màu đỏ rực của sự hoang dại. Người trong làng vẫn thường kháo nhau rằng, hai người này sinh cùng một năm, uống cùng một nguồn nước sông Bình Thủy, thế nhưng kiếp trước chắc chắn là oan gia ngõ hẹp, có mối thù truyền kiếp nên kiếp này hễ cứ chạm mặt là lại như nước với lửa, một mất một còn.
Sự đối địch giữa hai người không giấu diếm sau những nụ cười bằng mặt không bằng lòng, mà nó phơi bày trần trụi ngay trên bờ ruộng chung chia đôi hai mảnh đất. Nhà họ Giang tự hào có gốc gác học thức. Dẫu cho cái danh ấy giờ đây chỉ còn cân đo bằng vài bộ sách rách nát, mối mọt xếp xó và một ông cha quanh năm ôm lấy cái danh hão để trốn tránh việc đồng áng, thì Giang Ly vẫn lớn lên với tư cách là một trưởng nữ của gia đình. Nàng được dạy dỗ để trở thành một khuôn mẫu hoàn hảo: đi đứng khép nép, nói năng nhỏ nhẹ, đến một cái liếc mắt cũng phải thu lại cho vừa vặn với khuôn phép gia phong.
Mỗi buổi sớm, Giang Ly ra đồng với bộ y phục vải thô màu lam tuy đã bạc màu chằng chịt những vết khâu vá nhưng lúc nào cũng được giặt giũ sạch sẽ, phẳng phiu. Đối với Giang Ly, việc cấy cày không chỉ để kiếm miếng ăn, mà đó còn là một cách thức của sự nhẫn nhịn. Những cây mạ non được đôi bàn tay thon dài, nứt nẻ của nàng cắm xuống bùn, đều đặn thẳng tắp như chính vạch đường mà cha nàng đã vẽ sẵn cho cuộc đời nàng. Nàng tin vào số phận, tin vào việc chỉ cần chịu thương chịu khó, giữ gìn nề nếp thì ông trời tự khắc sẽ an bài.
Trái ngược hoàn toàn với sự mực thước của Giang Ly, Chúc Minh Yên ở bờ ruộng bên kia lại là hiện thân của loài cỏ dại vươn lên từ kẽ đá. Mồ côi cha mẹ từ trận lũ lụt năm lên mười, một mình Chúc Minh Yên sống được là nhờ những lần nhường cơm sẻ áo của vài người họ hàng xa và bản tính mạnh mẽ đến mức cay nghiệt. Chúc Minh Yên không trồng lúa. Vào cái năm mà cả làng Bình Thủy thắt lưng buộc bụng, quỳ lạy khắp các miếu đền để cầu mưa cho những bông lúa trổ đòng lép kẹp, Chúc Minh Yên đã làm một việc động trời. Nàng vác cuốc ra đồng, thẳng tay chặt đứt bờ mương chung, tháo cạn nước mảnh ruộng của cha mẹ để lại. Nàng nói đất Bình Thủy trồng lúa cả đời cũng không ngóc đầu qua nổi ngọn cỏ, thế là nàng phá ruộng, đắp nền cao lên để trồng dâu nuôi tằm.
Hình ảnh Chúc Minh Yên với xắn quần vải thô cao quá bắp chân, lộ ra làn da trắng ngần bám đầy bùn đất vừa hái lá dâu vừa cất giọng hát đã trở thành cái gai trong mắt đám phụ nữ đoan trang trong làng. Đôi mắt phượng của Chúc Minh Yên lúc nào cũng như chứa một ngọn lửa sẵn sàng thiêu rụi bất cứ kẻ nào dám buông lời bỡn cợt. Nàng không biết cúi đầu là gì. Càng bị khinh miệt, nàng càng ưỡn ngực ngẩng cao đầu mà sống, càng muốn chứng minh cho cái làng này thấy nàng không cần dựa vào một bờ vai đàn ông nào để tồn tại.
Mâu thuẫn giữa hai người phụ nữ ấy nảy mầm từ những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống đói nghèo, nơi một gáo nước tưới tiêu cũng có thể châm ngòi cho một cuộc chiến.
Mùa hạ năm họ mười bảy tuổi, một trận hạn hán kinh hoàng đổ xuống Bình Thủy. Lòng sông trơ ra những tảng đá trơ trọi, đất ruộng nứt nẻ thành những đường rãnh sâu hoắm như những vết thương hoại tử. Cơn đói bắt đầu gõ cửa từng nhà. Bữa cơm của nhà Giang Ly bấy giờ chỉ còn là một nồi cháo loãng, hạt gạo hiếm hoi đến mức có thể đếm được trên đầu ngón tay. Ruột gan ai nấy đều cồn cào, nóng nảy vì cái đói và cái nóng hầm hập.
Chiều hôm ấy, Giang Ly ra mương mót nốt vũng nước đục ngầu cuối cùng để cứu vớt đám lúa đang héo rũ. Khi nàng vừa cúi xuống, một chiếc gàu bằng gỗ thô bạo sục mạnh xuống, hất tung làn nước bùn lên vạt áo lam sạch sẽ của nàng. Chúc Minh Yên đứng đó, chống nạnh, đôi mắt phượng trừng lớn.
"Nước này để ta tưới dâu. Đám lúa sống dở chết dở của ngươi có múc cả dòng sông này cũng chẳng trổ nổi một hạt thóc đâu, Giang Ly ạ! Đừng có phí hoài công sức."
Giang Ly nhìn vệt bùn đen bẩn thỉu lem luốc trên chiếc áo mình hằng gìn giữ, lồng ngực nàng phập phồng vì tức giận. Nhưng sự giáo dục từ nhỏ không cho phép nàng gào thét như một người phụ nữ chua ngoa đanh đá. Nàng đứng thẳng dậy, bờ vai gầy run lên, dẫu giọng nói có run rẩy vì đói nhưng vẫn cố giữ vẻ bình thản.
"Chúc Minh Yên, ngươi đừng có ngang ngược. Ruộng lúa là nguồn sống của gia đình, là hạt ngọc của trời. Ngươi phá ruộng trồng dâu nuôi tằm, chẳng qua cũng chỉ để dệt lụa là cho đám người giàu sang trên trấn. Ngươi có tư cách gì mà tranh giành nước với ta?"
Chúc Minh Yên bật cười, tiếng cười lảnh lót nhưng chua chát xé rách cả tiết trời oi ả:
"Hạt ngọc của trời? Trời nào nuôi nổi cái bụng đói của cha ngươi? Cái vẻ đoan trang giả tạo của ngươi nhìn thật chướng mắt! Ngươi thà chịu nhịn đói để giữ gìn cái danh hão. Còn ta, ta thà làm kẻ khiến các ngươi gai mắt nhưng bụng ta no, tằm của ta nhả ra tiền. Để xem mùa đông này, cái danh hão của nhà họ Giang các ngươi có đem đi nấu thành cháo được không!"
Chúc Minh Yên cười nhạo xong thì dứt khoát xách gàu nước lên, bước qua bờ ruộng chung. Cái bóng của nàng đổ dài, che khuất cả dáng người gầy guộc của Giang Ly đang đứng trơ trọi giữa cái nắng oi nồng. Giang Ly đứng thẳng người, bàn tay nắm chặt đến mức móng tay bấm vào lòng bàn tay đau đớn, máu cũng dần rỉ ra quyện vào thớ gỗ sần sùi. Giang Ly ghét Chúc Minh Yên, ghét cay ghét đắng. Nhưng điều khiến chp nàng run rẩy và sợ hãi hơn cả chính là việc bản thân nhận ra câu nói vừa rồi của Chúc Minh Yên như một nhát dao sắc bén, rạch toác cả vỏ bọc bình yên giả tạo mà nàng hằng bám víu bấy lâu nay.
Cuộc chiến ấy kết thúc bằng việc Chúc Minh Yên xô mạnh chiếc gàu xuống, múc trọn vẹn gáo nước cuối cùng, bỏ lại Giang Ly đứng trơ trọi giữa mảnh ruộng nứt nẻ, sững sờ vì bất lực và nhục nhã.
Chương 2:
Khi mùa đông đổ ập xuống làng Bình Thủy, gió lạnh tràn về bủa vây quanh những gian nhà dột nát. Căn nhà của nhà họ Giang vào mùa này lại càng lạnh hơn những gia đình trong làng. Không phải vì thiếu vách ngăn, mà vì không khí im lặng đến mức rợn người bao trùm lên mọi góc tối. Sau một trận ho ra máu kinh hoàng vào đầu mùa hanh thì cha Giang Ly không bước chân ra khỏi thư phòng nữa. Ông ngồi bất động trong bóng tối, bóng người đổ lên bức tường bong tróc thành một hình thù kỳ dị, giống như một pho tượng cổ bằng đất nung đang phân hủy dần theo thời gian.
Giang Ly ngồi bên căn phòng nhỏ, tận dụng chút ánh sáng yếu ớt cuối ngày để đưa những đường kim trên tấm vải. Nàng đang thêu một bức "Bách điểu triều phụng" cho nhà một phú hộ trên trấn. Đây là công việc duy nhất giúp nhà họ Giang không phải đi ngửa tay xin gạo trong mùa đông khắc nghiệt này. Đôi mắt nàng đỏ ngầu vì thiếu ngủ, những ngón tay vốn nứt nẻ giờ đây đã rớm máu, những vết kim đâm cũ chưa kịp lành đã chồng lên vết mới, chai sạn và thô ráp.
Từ gian nhà trong, một tiếng động nhỏ như tiếng chuột chạy vang lên. Giang Vi bước ra. Em gái kém Giang Ly hai tuổi là điều duy nhất không thuộc về những khuôn phép ngột ngạt trong ngôi nhà này. Giang Vi có đôi mắt lá liễu, lúc nào cũng trong veo lấp lánh như một thứ ánh sáng hoang dại mà Giang Ly đã đánh mất từ lâu. Giang Vi bước đi không có dáng dấp khép nép của chị, nàng di chuyển nhẹ nhàng, uyển chuyển như một con mèo nhỏ trong rừng Trúc Sơn. Trên vạt áo của Giang Vi hôm nay có vương vài hạt cỏ may và thoang thoảng một mùi hương lạ không phải mùi mực ẩm mốc của cha, cũng không phải mùi tro bếp quẩn quanh bên người Giang Ly, mà là mùi của lá thông già và mùi đất ẩm trên núi sau mưa.
Giang Ly ngừng bàn tay đang đưa từng mũi kim thoăn thoắt, ánh mắt rời từ tấm vải thêu sang gương mặt em gái. Nàng nheo mắt nhìn vạt áo của Giang Vi.
"Em lại lên núi hái củi sao?"
Giang Vi hơi giật mình, bàn tay giấu sau lưng khẽ siết lại, nhưng rồi nàng lập tức nở nụ cười, tiến lại gần đặt một củ hoài sơn nhỏ xíu, ngoài vỏ còn bám đầy đất ẩm lên đùi Giang Ly.
"Chị, em tìm được cái này ở hốc đá phía sau núi. Nấu canh cho cha chắc ông sẽ đỡ hơn một chút."
Giang Ly nhìn hoài sơn rồi lại nhìn đôi mắt long lanh của em gái. Nàng với tay, nhẹ nhàng phủi những hạt cỏ may bám trên vai áo Giang Vi, ngón tay dừng lại ở một vết xước nhỏ nơi cổ áo. Vết xước rất mới, có vẻ như bị vướng vào một cành gai rừng, hoặc... một lực kéo mạnh nào đó từ một bàn tay thô bạo. Nàng không hỏi thêm. Nàng biết dạo này Giang Vi thường xuyên mất tích vào những buổi chiều muộn, khi sương mù bắt đầu tràn xuống từ đỉnh Trúc Sơn. Nàng muốn giữ cho em gái sự tự do mỏng manh ấy, là sự tự do mà chính nàng đã phải cột chặt bản thân ra để đổi lấy sự hài lòng từ cha.
"Lần sau đừng đi sâu vào rừng quá. Mùa này chó sói trên núi hay xuống tìm mồi lắm."
Giang Ly đè thấp giọng nói, thanh âm trầm xuống như một lời cảnh báo mơ hồ.
Giang Vi gật đầu, nhưng ánh mắt nàng lại hướng ra phía con đường mòn dẫn ra bờ sông, nơi tiếng thoi dệt từ nhà Chúc Minh Yên vẫn đang gõ nhịp đều đặn vào bóng tối.