Chương 1

C1

Tin dữ đến tai nhà họ Cảnh vào một buổi sáng tháng Ba, khi sương mù trên sông Hoài còn chưa kịp tan hết. Cái lạnh đầu xuân luồn qua những khe nứt của ngôi nhà tranh, mang theo vị tanh nồng của bùn đất và nước sông lưu cửu.

Khi ấy, ta đang ở sau bếp nhóm lửa. Củi mùa này ẩm ướt, khói bốc lên nghi ngút làm mắt ta cay xè, nước mắt chảy ròng ròng qua lưỡng quyền gầy gò. Ta lấy vạt áo chùi ngang mặt, tay vốc một vốc cám khô trộn với rau chuối băm dở để chuẩn bị cho hai con lợn trong chuồng ăn. Việc nhà nông quay qua quay lại cả ngày không hết việc, từ lúc gà gáy canh năm đến khi mặt trời lặn, tay chân ta chưa từng được ngơi nghỉ.

Tiếng đập cửa rầm rầm đột ngột vang lên từ phía cổng chính, phá tan bầu không khí tĩnh mịch trong xóm nhỏ. Tiếng đập mạnh đến mức mớ rào thưa bằng tre rung lên bần bật, kèm theo tiếng gọi thất thanh, khàn đặc của Lý chính:

"Nhà họ Cảnh đâu rồi? Quan trên sai người từ huyện về báo tin, mau ra mà nhận người!"

Gáo nước trên tay mẹ chồng ta rơi bộp xuống đất khiến nước văng tung tóe vào gấu quần sờn rách, vá chằng vá chịt của bà. Bà lảo đảo chạy ra từ gian nhà chính, đôi chân bó khập khiễng biến dạng suýt chút nữa vấp vào bực cửa cao gồ ghề. Ta gạt mớ củi khô sang một bên, chậm rãi chùi tay vào chiếc tạp dề bằng vải thô sẫm màu rồi bước từng bước theo ngay sau bà.

Trước cổng nhà, hai gã sai nha mặc áo bản rộng, bên hông đeo kiếm, sắc mặt lạnh lùng, khoanh tay đứng đó như những bức tượng. Bên cạnh họ là một chiếc cáng tre thô sơ, bên trên phủ một tấm vải trắng bẩn thỉu, loang lổ những vệt máu khô xen lẫn bùn đất xám xịt. Mùi máu tanh và mùi cỏ mục bốc lên khiến người ta nổi da gà.

"Ai là người nhà của Cảnh Triệt?" Một gã sai nha lên tiếng, giọng nói ráo hoảnh, thờ ơ.

"Ta... ta là mẹ của nó! Đại nhân, Triệt nhi nhà ta làm sao thế này? Nó đi áp tiêu cho quan trên nửa năm nay, tiền công còn chưa gửi về, sao các người lại cầm cái gì đến thế này?"

Mẹ chồng nhào tới, đôi tay gầy guộc run rẩy định lật tấm vải trắng lên, nhưng chưa kịp chạm vào đã bị mũi bao kiếm của gã sai nha lạnh lùng gạt phắt ra.

"Cảnh Triệt đi theo tiêu cục Vạn Đạt áp tải chuyến hàng qua hẻm núi Tam Sơn, gặp phải băng cướp hung hãn. Cả đoàn áp tải mười tám người thì mười bảy người bị chặt xác ném xuống vực sâu. Quan binh xuống thung lũng tìm kiếm ba ngày ba đêm, chỉ tìm thấy chiếc áo khoác đẫm máu này và thẻ bài tùy thân của hắn mắc trên cành cây sát bờ vực nước xiết. Quan phủ đã kết án tử, thi thể coi như bị thú dữ tha hoặc trôi theo dòng nước lũ, không thể thu nhặt. Đây là di vật, các người ký vào sổ định án rồi lui về lập bài vị đi."

Gã sai nha ném một bọc vải nhỏ màu sắc u ám xuống nền đất bẩn. Chiếc thẻ bài bằng sắt đen bong tróc bốn góc nảy lên hai cái, lăn mấy vòng rồi dừng lại ngay dưới mũi giày vải của ta.

Mẹ Cảnh nhìn chăm chăm vào chiếc thẻ bài, hai mắt trợn ngược lên, cổ họng phát ra âm thanh nghẹn uất rồi ngã nhào xuống đất, ngất lịm đi. Tiếng khóc gào của em chồng Cảnh Hy vang lên như xé toạc cả vòm trời xám xịt. Cô nương mười bốn tuổi, lao vào ôm lấy mẹ gào khóc trong vô vọng.

Ta đứng đó, nhìn chiếc thẻ bài nằm ngay dưới chân. Trên bề mặt thô ráp của nó có khắc hai chữ "Cảnh Triệt" nguệch ngoạc bằng nét dao găm sâu hoắm. Khi hai chúng ta vừa thành hôn tròn ba tháng, chính tay hắn đã cặm cụi khắc dưới ánh đèn dầu mờ ảo vào đêm trước ngày lên đường.

Hôm đó, hắn vén tóc mai của ta, bàn tay thô ráp đầy vết chai sạn cọ vào da mặt ta. Hắn nói:

"Minh Di, nhà ta nghèo, sính lễ cưới nàng chỉ có năm bao gạo với một con lợn con, khiến nàng chịu khổ rồi. Chuyến này đi áp tiêu đường dài, tiền thù lao mười lượng bạc đủ để ta mua thêm hai mẫu ruộng dưới thung lũng cho nàng gieo mạ vụ chiêm. Nàng ở nhà đợi ta, đừng làm việc quá sức, có mẹ và tiểu muội giúp rồi."

Giờ thì ruộng chưa thấy đâu, mà người đã hóa thành một dòng chữ trên quyển sổ của nha môn huyện.

Ta không khóc. Đại khái là dân làng quanh đây đều nhìn ta bằng ánh mắt kỳ dị. Họ mong chờ thấy nàng dâu mới cưới gào khóc thảm thiết, muốn thấy ta lăn lộn dưới đất cào cấu bùn đen để chứng minh tình nghĩa phu thê sâu nặng. Nhưng đầu óc ta lúc đó trống rỗng đến lạ kỳ. Nàng mới chân ướt chân ráo bước chân vào nhà họ Cảnh, phu thê còn chưa kịp đồng cam cộng khổ thì đã hay tin trượng phu qua đời. Người đầu gối tay ấp sẽ cùng nắm tay nhau trải qua một đời bỗng chốc rời đi, sao có thể không đau lòng? Nhưng người đi cũng đi rồi, người sống vẫn phải sống.

Hiện tại nhà họ Cảnh còn đúng ba đấu gạo mốc trong hũ gỗ. Số tiền nợ hiệu thuốc bắc ngoài thị trấn của mẹ chồng từ trận ốm mùa thu năm ngoái vẫn chưa trả hết, tổng cộng là bốn lượng hai mươi mốt đồng. Tiền thuế thân vụ xuân sắp đến hạn vào cuối tháng này, nếu không nộp đủ ba trăm đồng cho Lý chính, người của nha môn sẽ đến dắt con lợn trong chuồng đi. Ta đã tự tay thái rau thái chuối nuôi con lợn ấy suốt ba tháng qua, là hy vọng duy nhất của cả nhà để đổi lấy tiền mua hạt giống cho vụ mùa sau.

Nếu ta khóc, ba đấu gạo có tự đầy lên không? Nếu ta ngất đi, bốn lượng bạc nợ thuốc có tự biến mất không? Người chết thì đã chết rồi, nhưng ngày mai người sống mở mắt ra vẫn phải đối mặt với cái bụng đói cồn cào, với trăm thứ nợ nần như thòng lòng tròng lên cổ.

"Tẩu tẩu! Tẩu làm gì mà đứng ngơ người ra vậy? Đại ca c,h,ế,t rồi! Huynh ấy c,h,ế,t thảm như vậy, đến thi thể cũng không toàn vẹn, sao tẩu không khóc lấy một tiếng? Tẩu có còn là con người không?!"

Cảnh Hy vừa ôm lấy người mẹ đang hôn mê vừa ngước khuôn mặt đầm đìa nước mắt trộn lẫn mồ hôi bẩn thỉu lên nhìn ta, ánh mắt tràn ngập sự phẫn nộ cùng oán hận.

Ta không nhìn nàng, cũng không phí lời giải thích. Ta cúi người xuống nhặt chiếc thẻ bài đẫm máu và bọc di vật lên. Gã sai nha đưa cây bút lông đã chấm sẵn mực đen đặc đến trước mặt ta, giọng điệu sốt ruột:

"Nữ nhi trong nhà có biết chữ không? Không biết thì điểm chỉ ngón tay vào đây cho nhanh gọn, bọn ta còn phải sang làng bên nữa."

Ta đón lấy cây bút từ tay gã, ngón tay có chút run rẩy. Ta đặt tờ định án lên đầu gối mình, vạch một chữ "Trần" ngay ngắn ngay dưới dòng tên của Cảnh Triệt.

"Ồ, biết chữ à?" Gã sai nha hơi kinh ngạc, giật lại tờ giấy, nhìn nét chữ rồi tặc lưỡi.

"Được rồi, xong việc rồi thì chúng ta đi thôi. Nhắc nhở một câu, tiền thuế cuối tháng không được thiếu một đồng, bằng không đừng trách.”

Hai gã sai nha quay người, xách chiếc cáng tre trống rỗng bỏ đi thẳng ra đầu ngõ, bước đi nghênh ngang. Đối với họ, mạng của một gã phu áp tiêu nghèo ở xóm nhỏ này chẳng qua chỉ là một dấu gạch vô giá trị trong sổ hộ tịch mà thôi. Chết một người, đất trời vẫn quay, quan phủ vẫn thu thuế.

Dân làng bắt đầu tụ tập ngoài rào thưa đông hơn. Họ đứng thành tốp năm tốp ba, tay cầm cuốc, tay bồng con, vừa chỉ trỏ vào sân vừa xầm xì bàn tán. Những lời đàm tiếu cay độc lọt vào tai ta không sót một chữ nào.

"Nhìn kìa, nàng dâu mới nhà họ Cảnh đúng là đồ máu lạnh, khắc phu. Chồng chết không rơi lấy một giọt nước mắt, sắc mặt còn bình thản hơn cả người dưng nước lã."

"Ta đã nói từ ngày đầu rồi còn gì, con nhà gia đình sa sút ở thành thị gả về nông thôn thì làm gì có tình nghĩa thật lòng. Nhìn cái bộ dạng kia kìa, chắc chắn là đang tính đường tái giá, vơ vét nốt chút của cải cuối cùng rồi ôm tiền trốn theo nhân tình chứ gì nữa!"

"Đúng là tội cho Cảnh Triệt, hiền lành, chịu thương chịu khó, cưới phải loại phụ nữ bạc tình bạc nghĩa thế này, chết ở dưới vực sâu chắc cũng không nhắm mắt được."

Ta phớt lờ tất cả những lời mỉa mai khinh miệt ấy. Ta đỡ mẹ chồng vào trong nhà, đặt thân thể gầy guộc, lạnh ngắt như khúc củi khô của bà nằm lên chiếc giường tre ọp ẹp. Xong xuôi, ta quay sang nói với Cảnh Hy đang ngồi sụt sùi ở góc giường:

"Trông chừng mẹ cho kỹ, nhóm bếp nấu một bát nước gừng ấm để sẵn đó khi bà tỉnh lại thì cho uống. Ta ra ngoài có chút việc."

"Tẩu còn đi đâu nữa? Bây giờ trong nhà đang thế này, Đại ca ta vừa mất, tẩu định bỏ đi thật sao? Tẩu định vứt bỏ mẹ con ta cho chết đói đúng không?!"

Cảnh Hy hét lên, bàn tay dính đầy bụi bẩn túm chặt lấy vạt áo của ta, móng tay bấm sâu vào da thịt khiến ta đau nhói. Ta gỡ từng ngón tay của con bé ra khỏi áo mình, tuy lực tay của ta không lớn nhưng kiên quyết, khiến Cảnh Hy phải buông ra ngay lập tức. Giọng nói của ta bình thản không một chút gợn sóng:

"Ra ngoài đổi gạo. Nếu ta không đi, ngày mai cả nhà này cạp đất mà ăn chứ đừng nói đến chuyện lập bài vị cho Đại ca muội."

Nói rồi, ta quay người bước vào phòng của mình. Căn phòng rộng chưa đầy mười thước vuông, tối tăm và nồng mùi ẩm mốc của vách đất vụn. Tài sản đáng giá nhất trong phòng là chiếc rương gỗ đặt ở góc giường, là của hồi môn duy nhất mà cha ta đã dùng cả mạng sống để gắng sức giữ lại khi sản nghiệp nhà họ Trần bị chủ nợ phong tỏa. Ta mở khóa rương, tiếng bản lề gỉ sét kêu lên một tiếng "két". Ở dưới đáy rương, ta cẩn thận nhấc ra bộ hỷ phục màu đỏ thẫm được gấp gọn gàng, bọc trong một lớp vải thô.

Đó là bộ váy cưới do chính tay ta thêu trong suốt một năm trời, từ khi gia cảnh nhà ta bắt đầu sa sút cho đến ngày gả đi. Từng đường kim mũi chỉ, từng cánh hoa mẫu đơn bằng chỉ ngũ sắc óng ánh đều chứa đựng khát vọng về một cuộc đời bình yên, một mái nhà chắn gió che mưa của một thiếu nữ mười tám tuổi. Ta còn tỉ mẩn đính bốn viên ngọc trai nhỏ bằng hạt đậu trên cổ áo, đó là chút thể diện cuối cùng, là tàn dư phú quý của họ Trần chúng ta còn sót lại khi gả con gái về vùng quê nghèo khó này. Khi cưới, Cảnh Triệt nhìn bộ hỷ phục này đến ngây người, hắn nói hắn chưa bao giờ thấy thứ gì đẹp đến thế.

Giờ đây, ta ôm bộ hỷ phục vào lòng, cảm nhận cái lạnh từ lớp lụa thấm dần vào từng thớ thịt. Ta không chần chừ, đi thẳng về phía chợ trên trấn, bỏ mặc sau lưng những ánh mắt soi mói, những cái chỉ tay đầy khinh bỉ và những lời nguyền rủa ác độc của người trong xóm nhỏ.

Hiệu cầm đồ duy nhất trên trấn mang tên Vĩnh Lợi nằm ở cuối con phố lát đá xanh. Lão chưởng quầy có đôi mắt hẹp dài, ngồi sau chiếc bục gỗ cao ngất ngưỡng. Lão đón lấy bộ hỷ phục của ta, dùng những ngón tay mập mạp gảy gảy mấy viên ngọc trai trên cổ áo, rồi nhổ một ngụm nước miếng xuống chiếc bô đồng bên cạnh, cất giọng khàn khàn:

"Đồ vải cũ, tuy rằng đường thêu khéo léo nhưng màu sắc này đã không còn thịnh hành rồi. Hơn nữa, thời buổi này ai đi mua lại hỷ phục của góa phụ bao giờ? Xui xẻo lắm, mang về nhà có mà ám quẻ cả họ. Nể tình cô là người trên trấn trước đây, ta trả cho cô một lượng hai mươi đồng. Được thì để lại, không thì cầm đi."

Ta biết lão đang ép giá một cách tàn nhẫn. Viên ngọc trai kia dù nhỏ nhưng là ngọc thật từ Nam Hải do cha ta mua từ đoàn thuyền buôn năm xưa, riêng mớ chỉ thêu ngũ sắc thượng hạng này cũng đã đáng giá hai lượng bạc trên thị trường. Nhưng ta không có thời gian, cũng không có tư cách để đứng đây mặc cả từ đồng với lão. Nha môn sắp gõ cửa thu tiền thuế, hũ gạo trong nhà đã cạn đến đáy rồi.

"Ba lượng bạc. Không bớt một đồng."

Ta nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của lão, ánh mắt lạnh lẽo, kiên định đến mức không có chút độ ấm nào, tựa như một lưỡi dao găm vừa rút ra khỏi vỏ.

"Nếu chưởng quầy không nhận, ta sẽ mang sang tiệm may đối diện, xé ra bán lẻ bốn viên ngọc trai Nam Hải này cho phu nhân nhà Huyện lệnh. Lão biết thừa giá trị của ngọc Nam Hải mà."

Lão chưởng quầy híp mắt lại, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ta. Lão lầm bầm chửi rủa gì đó trong cổ họng, mắng ta là đồ góa phụ chanh chua ghê gớm, nhưng cuối cùng cũng sợ ta mang sang tiệm đối diện. Lão miễn cưỡng thò tay vào hộc tủ, lấy ra ba thỏi bạc vụn và năm mươi đồng ném lên mặt bàn gỗ:

"Cầm lấy rồi đi ngay cho, đồ phụ nữ sát chồng, đứng đây ám quẻ cả tiệm của ta."

Ta thu từng thỏi bạc, đếm đủ năm mươi đồng bỏ vào dải áo buộc chặt trước bụng, không nói một lời thừa thãi, lập tức quay người bước đi.

Từ hiệu cầm đồ bước ra, ta ghé ngay qua tiệm gạo lớn nhất trấn. Ta mua nửa bao gạo thô, một ít bột mì và một bánh muối. Toàn bộ số nhu yếu phẩm đó nặng gần bốn mươi cân. Đôi vai dù đã làm việc quần quật ba tháng ở nhà họ Cảnh vẫn đau nhói lên khi thanh đòn gánh tre tì vào da thịt. Ta cắn chặt răng bước từng bước một, gánh gánh nặng đi bộ sáu dặm đường đất gồ ghề để trở về làng khi gió chiều bắt đầu nổi lên.

Khi ta gánh gạo về đến sân nhà, trời đã chạng vạng tối. Mây đen sà xuống thấp, che khuất cả rặng tre già đầu xóm.

Mẹ chồng ta đã tỉnh lại từ lâu. Bà đang ngồi bệt dưới nền đất bẩn, tóc tai rũ rượi, khóc lóc thảm thiết, vừa đập ngực bôm bốp vừa gọi tên Cảnh Triệt. Xung quanh bà là ba bốn bà cô, bà thím họ xa trong tộc Cảnh thị. Những người này ngày thường chẳng bao giờ thấy mặt mũi đâu, nhà họ Cảnh có rau cháo gì cũng không đến lượt họ ngó ngàng, vậy mà giờ đây lại tụ tập đông đủ như bầy quạ ngửi thấy mùi xác chết.

Thấy ta gánh một bao đồ nặng trĩu bước vào sân, vợ của Nhị thúc nhà họ Cảnh nổi tiếng tham lam lại độc miệng đứng phắt dậy, chỉ tay vào sát mặt ta mà mắng nhiếc

"Trần Minh Di! Ngươi đúng là đồ lòng lang dạ thú! Thi thể phu quân ngươi còn chưa lạnh, vẫn đang nằm lạnh lẽo dưới vực sâu làm mồi cho thú dữ, ngươi đã bán sạch đồ cưới để lấy tiền hưởng lạc có phải không? Ngươi mua bao nhiêu gạo thịt thế kia, định một mình ăn mảnh rồi trốn lủi đi chứ gì? Nhà họ Cảnh chúng ta thật vô phúc mới rước phải loại con dâu lòng lang dạ thú, khắc c,h,ế,t trượng phu như ngươi!"

Mẹ Cảnh nghe lời khích bác của đối phương thì càng khóc to hơn, tiếng khóc nghẹn ngào lẫn trong tiếng gió rít:

"Triệt nhi ơi là Triệt nhi! Con chết khổ chết sở, để lại thân già này cho góa phụ độc ác này giày vò! Nó bán đồ cưới rồi, vài ngày nữa nó cũng bán luôn cái nhà, bán luôn muội muội con đi thôi!"

Ta đặt đòn gánh xuống, bao gạo rớt xuống nền đất nện một tiếng “bịch” trầm đục, bụi đất cũng theo đó bay lên mù mịt. Ta đứng thẳng lưng, quét mắt lướt qua một lượt những khuôn mặt đang bừng bừng "chính nghĩa" có mặt trong sân. Những kẻ ban sáng khi nghe tin Cảnh Triệt bỏ mạng thì trốn biệt tăm sau cánh cửa, không một ai bước ra cho mượn lấy một hạt gạo hay một lời an ủi thật lòng, giờ đây lại lấy danh nghĩa gia tộc và nhân danh đạo đức để đến đây hòng tìm kiếm chút lợi lộc hoặc hạ bệ ta để thỏa mãn sự ích kỷ của bản thân.

"Các vị thân quyến."

Ta lên tiếng, giọng nói không cao không thấp, lạnh lùng và rõ ràng đến mức át đi cả tiếng gió chiều và tiếng khóc rấm rứt của mẹ chồng.

"Minh Di ta gả vào nhà họ Cảnh ba tháng, tự hỏi chưa từng ăn không một hạt cơm, chưa từng tiêu một đồng tiền nào của gia tộc các người. Hôm nay phu quân ta gặp nạn, quan phủ kết án tử, người chết thì cũng đã chết rồi, không thể sống lại được nữa. Nhưng người sống thì ngày mai vẫn phải mở mắt ra mà trông cảnh túng thiếu nợ nần, vẫn phải vểnh tai lên mà nghe bụng réo rắt.”

Ta bước một bước lên trước, chỉ thẳng tay vào bao gạo thô dưới đất:

"Số gạo này là do ta bán bộ hỷ phục của chính ta mà có, không chạm đến một cọng cỏ nào của nhà họ Cảnh. Nhờ có số gạo này mà mẹ chồng và Cảnh Hy sẽ không phải chết đói trong nửa tháng tới. Còn các vị, nếu ai ở đây thực sự có lòng thương xót Cảnh Triệt, có tình nghĩa với nhà họ Cảnh, xin vui lòng bỏ ra cho nhà chúng ta mượn tiền nộp thuế vụ xuân sắp tới. Ai bỏ tiền ra lúc này, Trần Minh Di ta xin thay mặt Cảnh Triệt dập đầu bái sống!”

Cả sân viện đột ngột im phăng phắc, đến mức có thể nghe thấy cả tiếng kim rơi. Mấy bà cô, bà thím vừa rồi còn ra rả mắng mỏ, nước bọt văng tung tóe lập tức biến đổi sắc mặt. Người thì đột nhiên nhìn lên trời xem thời tiết, người thì cúi xuống sửa lại quai dép, người thì sờ soạng túi áo trống rỗng. Vợ Nhị thúc vừa chửi hăng hái nhất lập tức lùi lại một bước, miệng lẩm bẩm:

"Nhà ta còn ba miệng ăn chưa lo xong, tiền đâu ra mà cho mượn..."

Nói rồi, không đợi ta lên tiếng, bà ta giả vờ có tiếng gọi ở nhà, lật đật chạy biến ra cổng. Những người còn lại thấy thế cũng bắt đầu nhao nhao người thì bận nấu cơm tối, kẻ lại chưa đuổi gà vịt vào chuồng. Chỉ trong vòng chưa đầy mười nhịp thở, mớ người thương xót Cảnh Triệt một mực đòi lại công đạo kia đã giải tán sạch sẽ, đến một bóng người cũng chẳng thấy đâu, chỉ để lại cái sân hoang vắng đầy gió lạnh.

Ta nhìn sân viện trống trải rồi quay sang nhìn mẹ chồng đang ngơ ngác ngồi trên đất, nước mắt đã khô trên đôi má nhăn nheo gầy guộc. Lúc này Cảnh Hy đang đứng nép sau cánh cửa buồng, ánh mắt nhìn ta đã bớt đi vài phần hung hãn, thay vào đó là sự hoang mang tột độ.

"Cảnh Hy, mang bao gạo này vào bếp. Từ ngày mai, chúng ta không ăn cháo loãng nữa. Ăn cơm trộn khoai để lấy sức." Ta lạnh lùng nhìn về phía nàng.

Ta bước đến bên cạnh hàng rào, nhìn ra cánh đồng hoang đầy cỏ dại phía sau nhà họ Cảnh. Nơi đó có ba mẫu ruộng cằn cỗi bị bỏ hoang từ khi cha Cảnh Triệt qua đời. Ánh hoàng hôn đỏ thẫm như máu đang nhuộm chín cả một vùng trời vắng lặng, phản chiếu xuống dòng sông Hoài xa xa một màu sắc ảm đạm.

Cảnh Triệt mất rồi, điểm tựa duy nhất của gia đình này đã vỡ vụn. Nhưng Trần Minh Di ta vẫn còn sống ở đây. Ta tuyệt đối không có ý định để bản thân mình cùng hai người phụ nữ yếu đuối này phải chết đói ở nơi đây.

Chương 1: C1 - Minh Di | Gió Tháng Tám