Chương 5

C5

Mùa hè ở Tân Giả Khố nóng hầm hập. Những vết thương trên người ta, đặc biệt là vết thương ở chân do cực hình gây ra không hề được chữa trị. Ở một nơi mà mạng người rẻ rúng hơn cả cỏ rác này, làm gì có phần thuốc cho một tên tiểu thái giám?

Mỗi ngày, ta phải thức dậy từ canh ba, khi sương mù còn đang giăng mờ lối. Ta lê lết bên chân trái sưng phồng đến mức biến dạng để gánh từng thùng nước giặt.

Ban đầu, vết thương chỉ là những vết bầm tím thâm đen, nhưng dưới sự bào mòn của nước bẩn, sự oi bức của ngày hè và lao dịch quá sức, vết thương đã bắt đầu mưng mủ. Nó dần biến chuyển thành vết thương màu đỏ tía rợn người, rồi dần chuyển sang màu đen kịt như mảng thịt chết.

Mùi hôi thối từ bắp chân ta bốc lên, nồng nặc đến mức ngay cả những kẻ khốn khổ cùng phòng cũng phải bịt mũi, dời sạp ngủ ra xa ta.

Ta biết chuyện gì đang xảy ra. Vết thương đã hoại tử. Bên chân này đã không còn dùng được nữa rồi. Vi khuẩn đang ăn mòn dần các mô cơ của ta. Mỗi đêm, khi vạn vật chìm trong tĩnh mịch, ta nằm co quắp trong góc phòng nóng ẩm, chịu đựng từng cơn đau buốt thấu tận tâm can. Cơn đau ấy âm ỉ, nhức nhối từ tận trong xương tủy, như có hàng vạn con kiến độc đang gặm nhấm huyết quản. Thực sự đau không chịu nổi. Có lần đau đến mức ngất đi, rồi lại vì quá đau mà tỉnh lại.

Ta lên cơn sốt triền miên. Những cơn mê sảng kéo ta về với ga tàu điện ngầm đông đúc, về với bàn làm việc ngập tràn giấy tờ ở kiếp trước, rồi đột ngột đẩy ta xuống giếng sâu lạnh ngắt.

Một buổi tối tháng Sáu, ta không còn sức để đứng vững nữa. Ta ngã quỵ ngay bên cạnh chậu nước giặt, bên chân trái hoàn toàn mất đi cảm giác, sưng to gấp đôi bình thường và rỉ ra thứ nước vàng hôi thối.

Gã quản sự Tân Giả Khố bước đến, dùng mũi giày đá đá vào người ta như đá một con chó chết. Gã nhổ một bãi nước bọt rồi quay sang nói với tên lâu la bên cạnh:

“Mẹ kiếp, thứ phế vật này không dùng được nữa rồi. Báo với người của Nội Vụ phủ đi. Mau xử lý cái chân này đi thôi, ghê tởm quá. Chắc chút nữa ta không ăn nổi cơm mất.”

Đêm hôm ấy, có một ông lão râu tóc bạc phơ bước vào phòng. Ông nhìn ta rồi lại thở dài.

“Xem như ngươi mang số khổ vậy. Thận Hình Ty không lấy được mạng ngươi, nhưng cái chân này thì có thể lấy mạng ngươi thật đấy. Không giữ nó lại được nữa đâu. Nếu không cưa bỏ cái chân đã hoại tử này đi, mạng của ngươi cũng tan theo làn khói.”

Ta ngẩng đầu nhìn ông, ánh mắt ngây dại. Sau một lát, cuối cùng gật đầu.

Đại phu đổ một nửa bầu rượu vào vết thương của ta, cảm giác đau đớn tột cùng, nung nấu như lửa đốt khiến ta trợn ngược mắt, toàn thân co giật dữ dội. Lão nhét một miếng giẻ vào miệng ta:

“Cắn chặt vào!”

Nỗi đau ấy vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của một con người. Ta cảm thấy linh hồn mình như bị xé toạc làm đôi, một nửa bay lơ lửng trên xà nhà nhìn thân xác mình đang quằn quại trong vũng máu, một nửa chìm sâu vào hố đen không đáy của sự vô thức.

Khi ta tỉnh lại, trời đã tờ mờ sáng. Bên chân trái của ta đã biến mất từ đầu gối trở xuống, chỉ còn lại một khúc cùi thịt được quấn bằng những dải vải thô thấm đẫm thuốc. Cơn đau nhức chạy thẳng đến đại não, nhưng rồi thay vào đó là sự trống rỗng đến đáng sợ.

Ta trở thành một kẻ tàn phế. Một hoạn quan chỉ còn có một chân. Trong Hoàng cung, một kẻ tàn phế đồng nghĩa với việc hoàn toàn mất đi giá trị sử dụng. Nội Vụ Phủ không bao giờ tiêu tốn cơm gạo để nuôi dưỡng một kẻ không thể làm việc, không thể quỳ lạy một cách tử tế trước mặt các chủ tử.

Ba ngày sau khi loại bỏ bên chân hoại tử, khi ta còn chưa thể tự ngồi dậy, gã quản sự Tân Giả Khố đã sai người ném cho ta một bộ quần áo cũ và số tiền ít ỏi dành cho những kẻ tàn phế bị trục xuất khỏi cung.

“Đi đi, Hoàng cung không nuôi phế nhân. Ra ngoài mà tự tìm đường sống.”

Ta bị hai gã tiểu thái giám khênh lên một chiếc xe chở củi, đẩy ra khỏi Tây Hoa Môn ngay trong một buổi chiều gió lộng. Bọn họ quăng ta xuống vệ đường bên ngoài tường thành, ngay cạnh một đống rác đang bốc mùi dưới ánh nắng chói chang.

Ta nằm đó, bất lực nhìn chiếc xe quay trở lại cung, cánh cổng thành to lớn nặng nề đóng sầm lại ngay trước mắt. Mười năm thanh xuân, một phần xương thịt của cơ thể, tất cả đã bị chôn vùi bên trong những bức tường đỏ đẫm máu kia. Giờ đây, ta được trả tự do, nhưng là tự do của một con chó hoang cận kề cái chết.

Ta nhìn xuống ống quần bên trái trống rỗng, trong lòng dâng lên một nỗi cay đắng khôn cùng. Ta không thể về nhà.

Ta không thể vác thân xác tàn phế, nhục nhã này về làm gánh nặng cho họ. Cha đang bạo bệnh, mắt mẹ đã mờ đục, một mình Tiểu Xán mười mấy tuổi đã phải gánh vác quá nhiều. Nếu nàng nhìn thấy ca ca duy nhất của mình, chỗ dựa duy nhất của gia đình quay về trong bộ dạng một gã thái giám cụt chân, niềm tin vào cuộc sống của nàng sẽ hoàn toàn sụp đổ.

Ta phải thuê được một gian nhà nhỏ để tạm thời cư trú. Căn nhà trước đây thuê cho cha mẹ và Tiểu Xán ở ngoại ô Kinh thành chỉ cách nơi này không đầy mười dặm. Ta dự định đến nơi đó, nhưng trước hết phải tìm được nạng chống, và phải để cho bản thân được ngơi nghỉ. Giờ đây, thực sự ta không còn sức chống cự nữa rồi.

Vào một buổi chiều muộn, khi ta đang nằm thoi thóp giữa đống rơm mục, ý thức đã bắt đầu mờ mịt thì tiếng bước chân dồn dập, hỗn loạn từ bên ngoài vọng đến.

“Ca ca! Ca ca! Huynh đang ở đâu?”

Tiếng gọi ấy như một luồng điện mạnh mẽ, đột ngột đánh thức linh hồn đang cận kề cái chết của ta. Ta bừng tỉnh, sao Tiểu Xán lại ở đây? Ta hoảng loạn cố gắng dùng hai tay vơ lấy đống rơm khô để lấp liếm đi sự trống rỗng bên trong ống quần của mình. Ta không muốn con bé nhìn thấy. Ta không muốn đối mặt với con bé trong hoàn cảnh này!

Nhưng đã quá muộn. Bóng tối bên cạnh bức tường bị phá tan khi một bóng người mảnh mai lao đến. Tiểu Xán đứng đó, vạt áo màu vàng của nàng bám đầy bùn đất, mái tóc rối bời, đôi mắt to tròn ngập tràn sự hoảng sợ và tuyệt vọng đang nhìn dáo dác xung quanh.

Khi ánh mắt nàng chạm phải cảnh tượng một gã đàn ông rách rưới, mặt mũi hốc hác đang co quắp trong góc tường, nàng chợt khựng lại rồi nấc lên một tiếng nghẹn ngào.

“Ca ca...”

Nàng lao đến, quỳ thụp xuống đống rơm mục bên cạnh ta. Đôi bàn tay gầy mảnh của Tiểu Xán vươn ra, định ôm lấy ta nhưng ta lại điên cuồng đẩy nàng.

“Tránh ra! Đừng nhìn ta! Đi về đi. Ta không phải ca ca của muội. Hãy đi về đi!” Ta gào lên, giọng khàn đặc, nước mắt nước mũi giàn giụa trên khuôn mặt bẩn thỉu.

Nhưng Tiểu Xán không mảy may lay chuyển. Nàng dứt khoát dùng sức lực của một cô nương đã quen việc tay chân để gạt phăng đống rơm rạ đang che phủ đôi chân ta ra. Mọi thứ như ngừng lại vào giây phút ấy.

Ông quần bên trái trống rỗng, được buộc túm lại bằng một sợi dây thừng nhỏ lộ ra trước mắt nàng. Tiểu Xán chết lặng. Toàn thân nàng run rẩy dữ dội như gặp phải một trận đại địa chấn. Đôi mắt nàng trợn trừng nhìn vào khoảng trống dưới đầu gối trái của ta rồi lại nhìn lên khuôn mặt hốc hác của ta. Đôi môi nàng cắn chặt đến mức bật máu, hai tay nắm chặt lấy vạt áo đã sờn màu.

Đây chính là điều mà nàng luôn sợ sệt nhất, là thực tại tàn khốc mà nàng chưa bao giờ dám đối mặt.

Từ năm mười hai tuổi, khi ca ca trở về thăm nhà, một đứa trẻ nhạy cảm như nàng đã lờ mờ đoán ra cái giá mà ca ca mình phải trả để đổi lấy mạng sống cho cả gia đình. Nhưng nàng luôn cố lừa dối bản thân, nghĩ rằng ca ca mình chỉ làm người hầu cho gia đình quyền quý. Nàng không dám nghĩ sâu hơn, không dám chạm vào sự thật đau đớn ấy.

Giờ đây, sự thật ấy phơi bày ra trước mặt nàng một cách trần trụi đến vậy.

“Tại sao... tại sao lại như thế này...” Tiểu Xán thốt lên, giọng nói nhỏ vụn, rồi đột ngột vỡ òa thành một tiếng gào khóc thảm thiết, xé toạc cả không gian tĩnh lặng.

Nàng lao vào ôm chầm lấy ta, hai tay ôm chặt lấy bờ vai ta, cái đầu nhỏ rúc vào lồng ngực hôi hám đầy vết thương của ta mà khóc nức nở. Tiếng khóc của nàng chứa đựng sự ân hận tột cùng, sự đau đớn đến xé lòng của một người em gái nhận ra sự hy sinh vĩ đại nhưng tàn nhẫn của anh trai mình.

“Là vì chúng ta... vì mua thuốc cho cha mẹ… cho muội được đi học, nên huynh mới phải lao vào nơi quỷ quái đó... mới biến thành như thế này đúng không? Ca ca! Tại sao huynh lại chịu đựng một mình đến mức này? Tại sao?!”

Ta nằm bất động trong vòng tay của nàng, mười ngón tay tê dại không thể ôm lấy nàng, chỉ có thể để mặc cho nước mắt của nàng thấm đẫm lớp áo.

“Tiểu Xán, ta không sao... Ta không đau nữa rồi...” Ta khẽ thì thầm, cố gắng dùng chút hơi tàn để vỗ về nàng, bắt đầu nói năng mơ hồ.

“Ta chỉ là một nét mực thừa, thế giới này vốn không có chỗ cho ta.”

Nàng đột ngột buông ta ra, đưa tay lên quẹt ngang nước mắt trên mặt, đôi mắt to tròn nhìn thẳng vào mắt ta với sự kiên định, mạnh mẽ đến đáng sợ:

“Huynh nghe cho rõ đây! Dù huynh là Tiểu Thạch hay là ai, dù huynh có cụt một chân hay cụt cả hai chân, thì huynh vẫn là ca ca của muội, là người đã cứu sống cả gia đình chúng ta! Muội không cho phép huynh chết ở cái xó xỉnh này!”

Nàng quay lưng lại phía ta, hạ thấp bờ vai gầy xuống trước mặt ta:

“Bám chắc vào vai muội. Chúng ta về nhà.” Lúc lên tiếng, giọng đã khàn đặc.

Ta mơ màng trợn mắt, con bé này vừa nói cái gì vậy. Sao đầu lại đau thế này, toàn thân cũng đau, đau đến mức không muốn cựa quậy.

Đêm hôm ấy, một cô nương mười chín tuổi cõng một tên đàn ông tàn phế đi ròng rã suốt ba canh giờ để tìm xe trở về nhà.

Khi cánh cửa gỗ mở ra, người mẹ nghe tiếng động thì quờ quạng bước ra. Khi đứng trước ta, bà không nhìn rõ bộ dạng nhưng đôi bàn tay gầy guộc, nhăn nheo của bà sờ soạng khắp người ta, chạm vào mặt mũi rồi tay chân như đang muốn kiểm tra điều gì. Khi chạm đến ống quần cụt ngủn bên trái, bà lập tức quỵ xuống sàn đất, khóc không thành tiếng.

Trên giường đất, cha ta khẽ mở đôi mắt đục ngầu. Ông cụ đã ở vào những ngày cuối cùng của cuộc đời, hơi thở đứt quãng như ngọn đèn cạn dầu. Ông nhìn đứa con trai duy nhất của mình, giờ đây quay về trong thân xác tàn tạ vì đã gánh vác gia đình.

Giọt nước mắt lăn dài từ khóe mắt của người cha già. Ông không nói được gì, chỉ có thể khó khăn vươn bàn tay run rẩy ra, nắm lấy bàn tay đầy rẫy vết thương của ta, siết nhẹ một chút như thay cho một lời tạ lỗi, một lời cảm ơn muộn màng của một người cha dành cho đứa con trai đã hy sinh cả cuộc đời vì mình.

Ba ngày sau, cha ta qua đời. Ông ra đi thanh thản trong giấc ngủ, sau khi đã được nhìn thấy con trai trở về và được sưởi ấm bởi ngọn lửa gia đình lần cuối cùng.

Đám tang của cha diễn ra một cách lặng lẽ, đơn sơ trong một buổi chiều ảm đạm. Ta chống một chiếc gậy gỗ do Tiểu Xán tự tay đẽo gọt, đứng bên cạnh mộ cha, nhìn làn khói hương bay nghi ngút trong khoảng không vô định. Ta đứng đó, đứng thật lâu.

Sau đó ta mới biết lý do vì sao Tiểu Xán lại biết được sự việc đã xảy ra với ta.

Trước khi ta rời cung, lão Từ đã đến thăm, còn trò chuyện với ta rất nhiều. Từ khi biết chân vào cung cấm mười năm, chỉ có lão Từ nguyện ý sẻ chia cùng ta, trao cho ta hơi ấm tình người. Ông hỏi dự định của ta, và cũng hiếm khi hỏi về gia đình ta. Lúc ấy cảm xúc trong ta vô cùng hỗn loạn, bất chợt nhớ đến gia đình rất nhiều. Ta kể cho ông nghe về cha mẹ, về em gái, về hôn Hà Hoa nghèo khó nhưng ta lại một lòng vươn lên, chỉ mong có một ngày được quay trở về.

Có lẽ là vì chút thương hại cuối cùng dành cho một kẻ đồng cảnh ngộ, cho nên ông đã lén lút nhờ một gã phu dịch ngoài thành tìm đến tận nơi để báo tin cho gia đình ta.

Là ta đã đánh giá thấp tấm lòng của lão Từ, và cả sự kiên cường đến mức điên cuồng của muội muội nhà ta.

……

Sau khi cha mất, gian nhà nhỏ chỉ còn lại ba người. Nỗi đau qua đi, thực tại cơm áo gạo tiền lại một lần nữa đè nặng lên vai chúng ta. Với số tiền ta giữ lại phòng thân và trợ cấp ít ỏi từ trong cung, chỉ ngồi ăn núi lở thì sớm muộn gì cả nhà cũng lại rơi vào cảnh khốn cùng. Ta phải tìm cách khác.

Ta nhìn mười ngón tay đã lành sẹo của mình rồi lại nhìn gậy chống bằng gỗ bên cạnh sập. Ta không thể làm việc nặng, không thể gánh vác phong ba như trước. Nhưng ta có một thứ khác, đó là Kiến thức và tư duy của một người hiện đại.

Buổi tối ấy ta đang suy nghĩ thì mẹ ta quờ quạng bước vào phòng, ta đứng dậy đỡ bà. Thấy bà đặt xuống bàn cạnh giường ngủ một chiếc hũ sành. Sau đó bà ngồi xuống bên mép giường, một tay nắm lấy tay ta, tay còn lại vỗ nhẹ lên mu bàn tay.

“Đây là tiền con gửi về nhà. Cha mẹ đã tích góp được một chút, để lại chờ đến khi con lấy vợ thì có cái để lo liệu. Cách đây mấy năm nói với con rồi, con còn nhớ chứ?”

Ta gật đầu, khẽ đáp lại: “Vâng.”

Mẹ ta mỉm cười, tròng mắt mờ đục như đang nhìn vào khoảng không vô định.

“Con muốn lấy vợ cũng được, không lấy cũng chẳng sao. Chỉ cần con được thoải mái, thảnh thơi là tốt rồi.”

“Mẹ biết khổ sở con phải gánh chịu nhiều như vậy, làm sao có thể nói đến hai chữ hạnh phúc dễ dàng được chứ. Nhưng sâu trong thâm tâm của một người làm mẹ, chỉ hy vọng con được hạnh phúc, cho dù con cảm thấy ta quá đáng, tham lam cũng được.”

Ta vội vàng nắm lấy bàn tay của bà.

“Mẹ, vậy con nói cho mẹ biết điều này được không? Con không mong cầu vinh hoa phú quý. Mỗi lần trở về nhà là những lần con cảm nhận được hạnh phúc. Điều này rất đơn giản mà phải không? Cha mất rồi, còn mẹ và Tiểu Xán vẫn có thể cho con được mà.”

Ta ngừng lại một lát, rồi khàn giọng lên tiếng:

“Mẹ, có chuyện này con muốn nói với mẹ. Vốn dĩ con là…”

Đột nhiên người mẹ ta cứng lại, bà vỗ vỗ lên mu bàn tay ta, chuyển chủ đề trò chuyện.

“Số tiền này con giữ lấy đi, muốn làm gì với nó cũng được. Giờ mẹ già cả rồi. Để hai huynh muội các con xử lý đi.”

Ta nhìn bà đang loay hoay chuẩn bị đứng dậy, vội vàng giơ tay nắm lấy tay bà, chống nạng đưa bà về phòng. Xong xuôi, ta gọi Tiểu Xán ra sân phía trước nhà, đặt toàn bộ số tiền tích góp lên bàn.

“Số tiền này chúng ta không thể để không. Ngày mai, muội lên trên trấn tìm thuê một gian hàng nhỏ ở góc chợ phía Tây. Chúng ta sẽ mở một tiệm vải.”

Tiểu Xác ngơ ngác nhìn ta: “Tiệm vải ư? Chúng ta không có gốc gác ở đấy, cũng không biết mối lấy hàng, làm sao cạnh tranh được với những tiệm lớn ở trên ấy?”

Ta mỉm cười:

“Muội yên tâm. Tiệm lớn họ bán vải lụa gấm vóc cho nhà gia đình giàu có, chúng ta bán vải thô, vải bông cho dân lao động. Người nghèo ở Huyện Đông này chiếm đến tám phần, mùa đông ai cũng cần áo bông sưởi ấm, mùa hè ai cũng cần vải thô bền chắc để làm lụng. ban đầu chỉ cần chúng ta lấy công làm lãi, không ăn lời quá nhiều, lấy số lượng bù lại, hẳn là sẽ có khách.”

Nói là làm. Hai chúng ta bắt tay vào việc.

Ta ngồi ở nhà, thiết lập ra một quy trình quản lý sổ sách, tính toán thu chi theo phương pháp kế toán hiện đại. Ta dùng than củi vẽ lên nền đất những con số, những bảng biểu đơn giản nhưng vô cùng khoa học, dạy cho Tiểu Xán cách tính toán.

“Nhìn vào đây.” Ta chỉ chiếc gậy vào bảng vẽ trên đất. “Đây là cột thu, đây là cột chi, đây là phần tồn kho. Mỗi ngày, bất kể bán được một thước vải hay một cuộn chỉ, muội đều phải ghi chép rõ ràng vào đây. Người ta làm ăn thua lỗ phần lớn là vì không kiểm soát được dòng tiền, chúng ta phải làm thật tốt bước này.”

Tiểu Xán rất thông minh. Nàng chăm chú lắng nghe, đôi mắt sáng lấp lánh dưới ánh đèn tù mù. Nàng dùng một cây bút lông nhỏ, nắn nót chép lại những phương pháp tính toán của ta vào một cuốn sổ giấy.

Sự trưởng thành của nàng sau biến cố lớn khiến ta vừa vui mừng vừa xót xa. Cô bé chín tuổi nhem nhuốc năm nào, giờ đây đã trở thành một chưởng quầy nhỏ đầy bản lĩnh. Đôi tay ấy không chỉ biết viết chữ, phẩy quạt sắc thuốc, làm việc đồng áng, mà còn biết cầm bàn tính, biết giao tiếp với các mối buôn vải ngoài phố huyện.

Tiệm vải nhỏ mang tên “Tô Cẩm” khai trương vào một ngày mùa xuân ấm áp. Cửa hàng thực chất chỉ là một gian nhà nhỏ ở góc chợ, nhưng bên trong được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp. Những súc vải thô màu xanh chàm, màu xám được xếp đặt gọn gàng trên các kệ gỗ do chính ta đóng thành.

Nhờ vào phương pháp quản lý giá cả hợp lý, thái độ phục vụ nhã nhặn của Tiểu Xán và các chương trình tặng quà vào những ngày chợ phiên, tiệm vải nhỏ nhanh chóng thu hút được một lượng khách hàng ổn định là dân lao động nghèo, phu khuân vác và những người nội trợ trong vùng.

Công việc kinh doanh ngày càng thuận lợi. Từ một gian hàng nhỏ, chỉ sau nửa năm, hai chúng ta đã có thể tích cóp tiền để mua đứt gian nhà thuê, sửa sang lại cho mẹ một căn phòng ấm áp, đầy đủ ánh sáng để bà được thoải mái. Sau này chúng ta mở rộng thêm chi nhánh khác. Tiểu Xán lo ngại ta đi lại sẽ mệt mỏi nên cố tình nhận quản lý cửa tiệm ở huyện thành khác, để lại cửa tiệm cũ cho ta xử lý.

Một buổi chiều muộn, khi phiên chợ đã vãn khách, Tiểu Xán trở về nhà với một chiếc giỏ tre đựng đầy thức ăn ngon và một xấp tiền đồng nặng trịch. Nàng ngồi xuống bên cạnh sập của ta, đổ đống tiền ra bàn, bắt đầu lách cách gảy bàn tính theo những gì ta đã dạy. Ánh hoàng hôn vàng vọt của ngày cuối thu chiếu qua khe cửa sổ, nhuộm màu ấm áp lên gương mặt thanh tú, tràn đầy sức sống của nàng.

Ta ngồi tựa lưng vào thành giường, nhìn bóng dáng bận rộn nhưng hạnh phúc của nàng, trong lòng dấy lên một cảm giác bình yên, tự tại chưa từng có kể từ khi ta đặt chân đến thế giới này.

Có lẽ bên trong cánh cửa Hoàng cung kia vẫn đang diễn ra những màn tranh đấu đẫm máu của triều đình và hậu cung, có lẽ cốt truyện gốc vẫn đang vận hành theo đúng quỹ đạo vốn có của nó. Nhưng tất cả những điều đó không còn liên quan đến ta nữa rồi.

Ta chỉ là một nét mực thừa trên giấy, một kẻ tàn phế đã dùng chính sự kiên cường và tình thương từ gia đình để viết nên một chương hoàn toàn mới cho cuộc đời mình ngoài trang sách. Một chương truyện không có lầu vàng điện ngọc, không có quyền lực tối cao, nhưng ngập tràn hơi ấm chân thực mà hai chữ “gia đình” mang đến.

Trong cuốn sách dày cả ngàn trang ấy, có khi ta còn không có nổi một cái tên đàng hoàng. Có lẽ trong nguyên tác, sự tồn tại của cái thân xác này chỉ tóm gọn trong một dòng chữ:

"Tiểu thái giám tạp dịch lóng ngóng tay chân, bị Thái giám tổng quản Lý Liên trừng phạt."

Hoặc cũng có thể là:

“Cung nữ của Tuệ Quý phi đang bàn bạc âm mưu hạ độc đích trưởng tử của Hoàng hậu thì nghe thấy tiếng động trong lùm cây. Thị vệ rút kiếm lập tức đuổi theo, cũng không biết là con vật hay là con người.”

Người đọc sẽ lướt qua những dòng chữ ấy trong vòng vài giây, chẳng ai bận tâm đến một tiểu thái giám để làm gì. Chính bản thân ta cũng vậy, khi đọc sách cũng chưa từng để tâm đến những nhân vật nhỏ nhoi như thế. Cho nên sau khi xuyên qua, lục lại mọi ký ức cũng chỉ nhớ được tên của nhân vật chính, không biết mình là biến thành ai, chỉ biết đi một bước lại tính một bước. Làm một gốc cây xanh kiên cường đón nhận mọi mưa gió, sấm sét có đánh gãy cành, vậy thì là do ý trời mà thôi.

(Kết thúc)

Chương 5: C5 - Hoa Máu | Gió Tháng Tám