Chương 5

C5

Tiếng bánh xe ngựa của Hoàng tộc xa dần, cho đến khi hoàn toàn bị nuốt chửng bởi tiếng mưa đêm rả rích. Lúc này gian quán nhỏ nhà họ Lục mới thực sự được trả lại bầu không khí dễ thở. Những người hàng xóm vốn trốn sau cánh cửa khép hờ bắt đầu lén lút thò đầu ra nhìn. Ánh mắt họ nhìn vào quán mì không còn là sự thương cảm dành cho ba mẹ con tàn phế, nghèo khổ nữa, mà đã nhuốm màu e dè cùng kiêng sợ. Họ không biết người ngồi trong chiếc xe ngựa đen tuyền kia là ai, nhưng đội hộ vệ khí thế bức người ban nãy đã đủ để chứng minh một sự thật: Nhà họ Lục có nhân vật lớn chống lưng.

Ta đứng giữa gian quán, nhìn chiếc bàn gỗ trống trải. Những thỏi vàng ròng lấp lánh và thánh chỉ đại diện cho Vương quyền đã được mang đi, nhưng trên mặt bàn vẫn còn trơ trọi một vật. Miếng ngọc bội màu xanh thẫm, chế tác tinh xảo ẩn hiện hình rồng cuộn, phía dưới góc khắc một chữ "Dực" thanh thoát.

Ta tiến lại gần, ngón tay chạm vào khối ngọc mát lạnh. Một lát sau, ta lấy một mảnh vải thô cũ bọc kỹ khối ngọc lại, lẳng lặng bước vào buồng trong, nhấc chiếc rương gỗ mục đựng vài bộ y phục cũ và con dao cắt bột mì đã hơi mẻ của người cha quá cố rồi nhét khối ngọc xuống dưới đáy sâu nhất.

Đối với ta, miếng ngọc bội này một chiếc bùa hộ mệnh, bảo vệ chúng ta trong thầm lặng. Mà sự thay đổi đến một cách âm thầm nhưng rõ rệt vào ngay ngày hôm sau.

Vị quan viên nha môn phụ trách trị an khu phố Tây vẫn luôn dung túng cho đám lưu manh đến đòi tiền bảo kê, hễ thấy ta là lại hếch hàm hăm dọa, lúc này đây đột nhiên đích thân dẫn theo hai sai dịch mang theo trà bánh đến quán. Ông ta không còn vẻ hống hách thường ngày, nụ cười trên khuôn mặt béo phục phịch khách khí đến mức gần như nịnh nọt. Ông ta không dám hé răng hỏi một câu về vị khách đêm trước, chỉ luôn miệng khúm núm dặn dò nếu quán mì có bất kỳ điều gì không thuận lợi, hoặc có kẻ nào bén mảng đến quấy phá, cứ việc đến thẳng nha môn tìm ông ta xử lý.

Ta hiểu rõ luật chơi của thời đại này. Ta không tỏ ra kiêu ngạo, cũng không làm bộ thanh cao, vẫn cung kính rót nước mời trà, hành lễ đúng mực của một tiểu dân đối với quan sai. Ta dùng thái độ bình thản, chừng mực để đáp lại, khiến vị quan viên kia vừa nhẹ lòng lại vừa thêm phần kiêng dè.

Khi bóng dáng ông ta rời đi, ta đứng bên ngưỡng cửa, siết chặt hai bàn tay còn hằn sẹo bỏng. Sự yên ổn ngầm này chính là tiền đề lớn nhất mà ta cần. Ta đã từ chối sự ban ơn trực tiếp của Hoàng đế nhưng ta tuyệt đối không phải là một kẻ ngu ngốc muốn dậm chân tại chỗ, mãi mãi sống trong cảnh đói nghèo. Có lá chắn quyền lực ngầm, không tận dụng thì đó mới là sự thanh cao ngu xuẩn nhất.

Bước đi đầu tiên trong kế hoạch xoay chuyển càn khôn của ta là phải triệt để thay đổi phương thức kinh doanh sinh tồn hằng ngày. Một quầy mì lụp xụp, dầm mưa dãi nắng ở góc phố Tây chỉ có thể kiếm được vài đồng tiền lẻ ăn qua ngày, không thể giúp gia đình ta tích lũy, càng không thể giúp Tiểu Vũ có tiền mời thầy học chữ hay chữa bệnh cho mẹ.

Ta đóng cửa quán ba ngày. Trong ba ngày đó, ta không chạm vào bột mì, chỉ lầm lũi ngồi bên bàn gỗ, dùng mẩu than củi vẽ lên giấy thô những sơ đồ quy trình và kế hoạch kinh doanh mà kiếp trước ta từng nằm lòng.

Kinh thành thời Cảnh Hoà đang phục hồi kinh tế mạnh mẽ, lượng người đổ về buôn bán, giao thương ngày một đông đúc. Tuy khu phố Tây nghèo khổ nhưng lại là cửa ngõ đón nhận các đoàn lữ hành, phu khuân vác và thương nhân nhỏ từ các tỉnh phía ngoại ô tiến vào. Họ cần gì? Họ cần một bữa ăn nhanh, no bụng, giá cả phải chăng.

Ta bắt đầu cải tiến công thức nước dùng. Ở thời đại này, người ta ninh xương một cách thô sơ, nước dùng thường đục và nồng mùi. Ta áp dụng kỹ thuật làm sạch và làm trong nước dùng. Xương ống heo phải được ngâm nước lạnh hai canh giờ để rút hết máu, sau đó chần qua nước sôi kèm gừng nướng và rượu nhạt để khử sạch mùi. Khi ninh, giữ lửa liu riu, liên tục vớt bọt, kết hợp thêm vị ngọt thanh tự nhiên từ củ cải trắng và bột nấm hương khô tự chế. Kết quả là bát nước dùng của Lục Ký mì quán luôn trong vắt, nhưng khi nhấp một ngụm, vị ngọt đậm đà, béo ngậy.

Tiếp đến là sợi mì. Ta không dùng loại bột mì thô lẫn nhiều tạp chất làm sợi mì bị bở rách nữa. Ta cắn răng bỏ ra số tiền tiết kiệm cuối cùng để mua loại bột mì trắng thượng hạng của vùng Sơn Đông, phối trộn với lòng trắng trứng theo tỷ lệ nhất định. Đôi bàn tay đầy sẹo bỏng của ta nhào bột ròng rã suốt hàng giờ đồng hồ, dùng lực kéo nhào, đập trên thớt cho đến khi khối bột dẻo mịn, đàn hồi tuyệt đối.

Sự cải tiến này ngay lập tức tạo nên một cú nổ lớn ở khu phố Tây. "Lục Ký mì quán" mở cửa trở lại với một diện mạo hoàn toàn mới. Ta không ngồi đợi khách đến, mà phân chia sản phẩm thành ba phân khúc rõ rệt để tối ưu hóa doanh thu:

Mì Phu giá ba đồng: Sợi mì thô hơn, nước dùng đậm vị, bát mì to, đầy ắp để những người phu khuân vác, làm công ăn một bát là đủ sức làm việc suốt cả buổi chiều.

Mì Kinh Thương giá tám đồng: Sợi mì kéo mảnh, có thêm vài lát thịt xá xíu thái mỏng ngấm gia vị và một quả trứng kho đậm đà, hướng tới đối tượng thương nhân nhỏ và sai dịch nha môn.

Mì Chay Thanh Cảnh giá năm đồng: Dành cho những vị khách thích sự thanh đạm, nước dùng thuần vị nấm và củ cải.

Ta còn thiết kế quy trình "bếp mở". Bếp lò được dời ra sát cửa tiệm, nồi nước dùng khổng lồ luôn bốc khói nghi ngút, hương thơm ngọt của nấm hương và thịt bay xa cả con phố, như một thứ bùa chú vô hình câu dẫn dạ dày của người qua đường. Sợi mì tươi được kéo ngay tại chỗ trước mặt khách, tốc độ ra món chưa đầy nửa nén hương.

Người đông như trẩy hội. Từ canh ba cho đến nửa đêm, gian nhà ba gian luôn chật kín người ra vào. Tiếng xì xụp húp nước dùng, tiếng đũa va chạm vào bát sành, tiếng gọi món vang lên không ngớt. Tiền đồng trong hũ biến thành từng vốc lớn đổ vào ào ào hằng ngày. Chỉ sau nửa năm, ta đã đổi hết tiền đồng thành những thỏi bạc trắng, nặng trịch giấu dưới gầm giường. Cơ nghiệp nhà họ Lục bắt đầu có nền móng vững chãi kể từ khi ấy.

Khi tiền bạc trong tay đã bắt đầu dư dả, việc đầu tiên ta thực hiện chính là chữa trị vết bỏng cho mẹ.

Ta từ chối sự ban ơn của Thái y triều đình không có nghĩa là ta chấp nhận để mẹ mình phải mang thân hình tàn phế, trốn tránh cả đời trong bóng tối. Tuy rằng tay nghề của Thái y tốt nhưng hành tung gắn liền với đại nội, một khi họ ra vào nhà ta, tai mắt của các thế lực thù địch với Hoàng đế hoặc đám quan lại tò mò sẽ lập tức dòm ngó. Ta không muốn nhà họ Lục biến thành tiêu điểm của Kinh thành, cũng sẽ không thể nó biến thành điểm yếu. Ta sẽ dùng tiền của chính mình để tìm kiếm sự cứu giúp của y học một cách đường đường chính chính.

Qua lời giới thiệu của những thương nhân lớn hằng ngày vẫn đến ăn mì, ta biết được thông tin về vị thần y người từng được mệnh danh là "Thần Y Đường" lừng lẫy, nay đã cáo lão hồi hương, ẩn cư tại một ngôi làng nhỏ dưới chân núi phía ngoại ô Kinh thành. Ông lão này tính tình lập dị, y thuật cao siêu nhưng nổi tiếng là coi thường vinh hoa phú quý, chỉ chữa bệnh dựa trên duyên phận và những ca bệnh nan y thách thức bản lĩnh của ông.

Một ngày mưa phùn đầu xuân, ta thuê một chiếc xe ngựa kiên cố, đỡ mẹ và Tiểu Vũ lên xe, ba người cùng lội ba mươi dặm đường đất bùn lầy để tìm đến tệ xá của Liễu thần y.

Ngôi nhà tranh của ông sực nức mùi thảo dược phơi khô. Nhìn thấy khuôn mặt sẹo sần sùi kinh dị của mẹ ta và cánh tay trái co rút giấu kín trong vạt áo, ông lão tóc bạc phơ chỉ nhấp một ngụm rượu nhạt, hờ hững nói:

"Vết thương do hỏa hoạn gây ra đã qua vài năm, gân cốt hư hỏng, da thịt đã hóa sẹo lồi cứng ngắc. Muốn chữa trị chẳng khác nào chặt xương lột da lần thứ hai, đau đớn thấu xương tủy, người già thế này không chịu nổi đâu. Về đi."

Mẹ ta nghe vậy, ánh mắt thoáng hiện vẻ thất vọng, khẽ kéo tay áo ta định lui ra. Nhưng ta lập tức bước lên, lấy từ trong ngực áo ra một chiếc hộp gỗ nhỏ, mở ra trước mặt ông. Bên trong không phải là vàng bạc thông thường, mà là ba mươi lượng bạc kèm theo một tấm bản vẽ chi tiết do chính ta vẽ lại. Đó là sơ đồ giải phẫu hệ thống cơ và gân tay của con người dựa trên kiến thức y học hiện đại mà ta còn nhớ được.

Liễu thần y nhìn lướt qua tấm bản vẽ, đôi mắt bỗng chốc mở to, bàn tay cầm chén rượu khựng lại giữa không trung. Ông chộp lấy mảnh giấy, nhìn chằm chằm vào những đường nét vẽ mạch máu và bó cơ, lẩm bẩm:

"Đây... đây là cách phân chia của môn phái nào? Tại sao lại tinh vi đến thế này?"

"Liễu thần y." Ta cung kính cúi đầu, giọng nói kiên định.

"Đây là kiến thức dân nữ học được từ một vị ở phương xa. Ta biết việc hồi phục diện mạo cho mẹ ta là điều không tưởng, nhưng phần cơ cánh tay trái của bà bị co rút là do da thịt chết níu chặt lấy gân. Nếu ngài dùng dao rạch bỏ lớp sẹo chết, nối lại những đoạn gân bị co, kết hợp thuốc tiêu sẹo kích thích sinh cơ, có lẽ cánh tay của mẹ ta sẽ hoạt động lại được. Ba mươi lượng bạc này là tiền thuốc, nếu ngài thành công, ta nguyện dâng tặng toàn bộ cuốn sách giải phẫu của vị dị nhân kia cho Thần Y Đường."

Sự kết hợp giữa tiền bạc sòng phẳng và mồi nhử kiến thức y học vượt thời đại đã hoàn toàn đánh gục vị thần y lập dị. Ông lão đập bàn đứng dậy, mắt lóe lên ánh sáng:

"Được! Con nhóc này khá lắm! Ta nhận ca bệnh này!"

Liệu trình chữa trị cho mẹ là một chuỗi những ngày tháng kinh hoàng và đẫm nước mắt. Để rạch tách phần sẹo co rút ở vai và cánh tay, Liễu thần y phải dùng những con dao mổ nhỏ nung qua lửa, cắt bỏ từng tấc thịt lồi đỏ xám cứng ngắc. Mẹ ta cắn chặt chiếc khăn vải, mồ hôi vã ra như tắm, toàn thân run rẩy kịch liệt vì đau đớn nhưng bà không kêu rên một tiếng nào, bởi vì bà biết, đây là cơ hội duy nhất để bà trở lại làm một người bình thường.

Hằng ngày ta đều dành thời gian túc trực bên giường bệnh, tự tay nấu những bát cháo dinh dưỡng để bồi bổ cho bà. Tiểu Vũ thì lặng lẽ đứng ở góc phòng, đôi bàn tay nhỏ siết chặt đến mức trắng bệch, ánh mắt đầy sự kiên cường theo dõi từng tiến triển của mẹ.

Ròng rã suốt ba tháng trời, tiêu tốn gần một trăm lượng bạc tiền thuốc men, thảo dược quý và thuốc tiêu sẹo đặc trị đắt đỏ nhất, rốt cuộc kỳ tích đã xuất hiện.

Vết sẹo trên mặt mẹ tuy vẫn còn những lằn thâm mờ, nhưng phần sẹo kéo ghì ở cổ và vai đã hoàn toàn mềm đi. Cánh tay trái từng bị phế, co rút dưới ngực nay đã có thể chậm rãi nhấc lên, duỗi thẳng ra một cách tự nhiên. Ngày đầu tiên mẹ đã có thể tự dùng bàn tay trái ấy cầm chiếc lược gỗ, nhẹ nhàng chải lại mái tóc xơ xác cho ta, giây phút ấy bà đã khóc nức nở. Đó không phải là những giọt nước mắt nghẹn ngào, đau đớn trong đêm hỏa hoạn, mà là giọt nước mắt của sự tái sinh, của một người phụ nữ đã tìm lại được tôn nghiêm và cuộc đời của chính mình bằng bản lĩnh tự lực của con gái.

Khi việc chữa trị cho mẹ đã đi vào giai đoạn ổn định, tâm trí ta dồn hết vào Tiểu Vũ.

Việc ta từ chối ý chỉ đưa Tiểu Vũ vào Quốc Tử Giám năm xưa từng khiến vị quan thân cận của Hoàng đế coi là điều điên rồ. Nhưng ngẫm nghĩ lại mới thấy, cái chốn Quốc Tử Giám kia là nơi nào? Đó là thánh địa tập trung con em của các bậc vương tôn công tử, đại thần quyền quý trong triều. Họ vào đó không chỉ để học chữ, mà là để thiết lập các mối quan hệ phe cánh, chuẩn bị cho cuộc đua quyền lực chốn quan trường sau này.

Một đứa trẻ xuất thân nghèo khổ ở khu phố Tây, lại bị mất năng lực ngôn ngữ sau chấn động tâm lý như Tiểu Vũ, nếu bước chân vào nơi xa hoa, đầy rẫy sự phân biệt giai cấp và hiểm độc ấy, đệ ấy sẽ sống như thế nào? Có thể sẽ trở thành trò cười, trở thành mục tiêu cho sự bắt nạt, khinh miệt của đám công tử tôn quý. Hào quang của Hoàng đế chỉ có thể bảo vệ đệ ấy nhất thời, cũng không thể bảo vệ đệ ấy khỏi sự cô lập diễn ra hằng ngày. Ta không cần đệ đệ mình phải làm quan, không cần đệ ấy phải lao vào vòng xoáy sinh tử dưới chân Hoàng quyền để làm gì. Ta cần Tiểu Vũ có thực tài, có tri thức để tự làm chủ cuộc đời mình trong thế giới này. Như vậy là đủ rồi.

Ta tìm cho Tiểu Vũ một người thầy. Thẩm phu tử là một vị Đại Nho lừng lẫy một thời, tính tình nghiêm cẩn, học vấn uyên thâm, nổi tiếng thẳng thắn, không chịu nổi chốn quan trường mà cáo lão hồi hương sớm. Ông sống ẩn dật trong một căn nhà ngói cổ kính phía Bắc Kinh thành, lập ra quy tắc không nhận học trò bừa bãi, không màng đến tiền bạc dâng tặng nếu người đó không có tư chất.

Ngày ta dẫn Tiểu Vũ đến bái kiến, Thẩm phu tử nhìn đứa trẻ không hé lấy nửa lời thì khẽ lắc đầu, giọng lạnh lùng:

"Cả đời lão phu dạy học, chưa từng thu nhận người mất năng lực ngôn ngữ. Sách thánh hiền nói chữ phải được đọc to rõ, vang vọng đạo lý. Đứa trẻ này không thể mở miệng, làm sao học được đại đạo đây?"

Ta không quỳ gối van xin lòng thương hại từ ông. Ta bảo Tiểu Vũ bước lên, đặt lên bàn phu tử một cuốn sổ sách do chính tay Tiểu Vũ thiết kế và ghi chép trong suốt một năm qua quản lý quán mì, cùng với một bài luận nhỏ do ta gợi ý đề tài, Tiểu Vũ đích thân triển khai ý.

Bài luận không bàn về những giáo điều rập khuôn, mà bàn về Kinh tế dân sinh và sự lưu thông tiền tệ tại khu phố nghèo Kinh thành. Trong đó, Tiểu Vũ dùng những số liệu thực tế về giá bột mì, lượng tiêu thụ của người làm công, sự chênh lệch giữa tiền đồng và bạc ròng để phân tích về sức mua của bách tính dưới triều đại mới. Đặc biệt, phương pháp ghi sổ kép mà ta dạy cho Tiểu Vũ được thể hiện bằng những hàng cột rõ ràng, mạch lạc, đối chiếu thu chi chính xác đến từng đồng xu nhỏ.

Thẩm phu tử lật từng trang sổ, đôi lông mày bạc khẽ nhướng lên, rồi dần dần biến thành sự ngạc nhiên. Ông nhìn những con số được sắp xếp chuẩn chỉnh, nhìn những lời phân tích sắc bén, thực tế về thực trạng đời sống dân sinh vượt xa tầm mắt của những kẻ mọt sách chỉ biết ngâm thơ vịnh nguyệt.

Vị Đại Nho già ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào cậu thiếu niên mười mấy tuổi đang đứng thẳng tắp, đôi mắt trong veo, trầm tĩnh trước mặt mình. Ông đặt cuốn sổ xuống, vuốt râu cười lớn, tiếng cười vang vọng cả gian nhà cổ:

"Hay! Hay cho câu Kinh tế thực tế mới là gốc rễ trị quốc! Đám học trò Quốc Tử Giám ngoài kia chỉ biết viết những bài văn hoa mỹ rỗng tuếch để nịnh hót triều đình, không một kẻ nào có được cái nhìn thấu tỏ nhân gian như đứa trẻ này. Tuy đứa trẻ này không thể nói, nhưng trong lồng ngực lại chứa đựng trí tuệ giang sơn. Đạo lý của thánh hiền nằm ở khối óc và cái tâm, chứ không nằm ở cái miệng ba hoa! Thẩm Triết ta nhận đứa nhỏ này!"

Kể từ ngày đó, Tiểu Vũ chính thức trở thành học trò của Thẩm phu tử.

Tiểu Vũ không học để bước trên con đường quan lộ. Đệ ấy học về luật pháp, về kinh tế cổ đại, về cách nhìn nhận thế sự và quản lý con người. Sáng sớm, Tiểu Vũ đến nhà phu tử mài mực đọc sách, chiều muộn lại trở về tiệm mì, mặc bộ đồ vải xanh thanh nhã, ngồi bên bàn lập ra từng chương kế hoạch kinh doanh cho gia đình. Tiểu Vũ không có vinh hoa phú quý do Hoàng đế ban phát, nhưng đệ ấy có tôn nghiêm do chính năng lực trí tuệ của bản thân tạo dựng nên. Không một ai trong Kinh thành này dám coi thường một thiếu niên tài năng đứng sau chuỗi cửa hàng Lục Ký nữa.

Thời gian trôi qua thật nhanh, thấm thoắt vương triều Cảnh Hoà đã bước sang năm thứ sáu.

Lúc này Lục Ký mì quán không còn là một cửa tiệm đơn độc ở khu phố Tây. Dưới sự vận hành chiến lược của ta và khả năng quản lý tài chính của Tiểu Vũ, thương hiệu Lục Ký đã mở rộng thành một chuỗi hệ thống gồm năm tửu lầu lớn nằm tại năm vị trí đắc địa nhất xuyên suốt bốn cửa thành Kinh kỳ.

Cửa hàng chính ở khu phố Tây giờ đây là một tòa tửu lầu hai tầng khang trang. Bát mì đầy đặn, nước dùng ngọt thanh, giá cả luôn được kiểm soát ở mức hợp lý nhất để bất kỳ người dân nghèo nào cũng có thể bước vào dùng bữa.

Sự phát triển thần tốc của Lục Ký tất nhiên không tránh khỏi sự dòm ngó của những kẻ ghen ghét đố kỵ. Có những chủ tửu lâu lớn khác trong thành từng cấu kết với quan lại địa phương, định dùng những thủ đoạn bẩn thỉu như vu khống quán mì dùng thịt ôi thiu, hoặc cho lưu manh đến đập phá để ép ta phải bán lại công thức nước dùng độc quyền.

Vào cái ngày vị quan chủ quản Kinh thành dẫn theo một toán binh lính hùng hổ bước vào quán định niêm phong cửa tiệm, ta không hề hoảng loạn.

"Đại nhân nói Lục Ký dùng thịt lợn bệnh, vậy xin hỏi đại nhân có mang theo văn thư kiểm nghiệm hay bằng chứng cụ thể nào không? Hay chỉ nghe lời mật báo từ một phía mà tự ý niêm phong cơ nghiệp này của ta?"

Vị Thừa ty hếch hàm, đập bàn quát: "Bản quan làm việc cần gì giải thích với hạng con buôn như ngươi? Người đâu, niêm phong quán cho ta!"

"Đại nhân khoan đã." Ta khẽ gạt tay tên lính đang định bước lên, lấy ra ba cuốn sổ dày từ trong tay áo, thong thả đặt lên bàn.

"Trước khi niêm phong, xin đại nhân nhìn qua mấy thứ này."

"Thứ nhất, đây là Sổ ký danh thực khách của Lục Ký. Ba ngày trước, Hình bộ Tả Thị lang và Ngự sử đài Giám sát ty đều dùng bữa tại lầu hai của quán chúng ta. Nếu đại nhân nói món ăn của quán có độc, chẳng lẽ đại nhân đang gián tiếp buộc tội Lục Ký mưu hại các vị đại thần triều đình?"

Sắc mặt vị Thừa ty khẽ biến đổi, nhưng ông ta vẫn nghiến răng: "Ngươi bớt lấy quan lớn ra dọa ta!"

Ta đẩy cuốn sổ thứ hai ra, nụ cười trên môi càng thêm lạnh lẽo.

“Một tháng trước, Thẩm phu tử đã mang hệ thống sổ sách kép này tiến cử lên Hộ Bộ Thượng thư nhằm giải quyết vấn đề thất thu thuế thương nghiệp tại Kinh thành. Hiện tại, Lục Ký chính là đơn vị thí điểm duy nhất được Hộ Bộ phê duyệt ngầm để kiểm chứng hiệu quả của phương pháp này trước khi trình lên bệ hạ.”

Ta bước lên một bước, ánh mắt khóa chặt vào đôi mắt đang dần dại đi vì kinh hãi của vị Thừa ty:

"Hằng tuần Hộ Bộ Lang trung đều cử người đến Lục Ký để đối chiếu số liệu. Hôm nay đại nhân mang quân đến đập phá, niêm phong quán mì, chính là trực tiếp chặt đứt dự án cải cách tài chính của Hộ Bộ Thượng thư, phá hoại việc công của triều đình. Đại nhân nghĩ xem, người chống lưng cho ông là mấy gã chủ tửu lâu giàu có, có đủ sức che cả bầu trời, đỡ hộ ông một nhát này không?”

“Bộp!”

Chiếc mâm đồng trên tay tên lính đi sau run rẩy rơi xuống đất. Đến lúc này thì vị Thừa ty hoàn toàn sụp đổ gối. Nếu chỉ là học trò của phu tử đã cáo lão về hưu, ông ta có thể dùng quyền lực ép chết. Nhưng một khi quán mì này đã gắn liền với lợi ích chính trị và dự án cải cách của Hộ Bộ Thượng thư, thì việc đụng vào Lục Ký chẳng khác nào tự tìm đường chết. Ông ta chỉ là một con cờ nhỏ trong hệ thống trị an, làm sao dám đối đầu với một vị Thượng thư thực quyền đang tìm kiếm công trạng trước mặt Hoàng đế?

"Và thứ ba, đây là Mạng lưới liên minh thương hội Tây Kinh do Lục Ký đứng đầu, bao gồm hơn năm mươi hiệu buôn và các nghiệp đoàn phu phen khu phố Tây. Mỗi tháng Lục Ký chúng ta đều trích doanh thu để hỗ trợ tiền thuốc men cho phu xe, nuôi cơm trẻ mồ côi. Đại nhân nhìn ra ngoài cửa xem."

Vị Thừa ty run rẩy nhìn ra ngoài. Từ lúc nào, hàng trăm phu khuân vác, xe thồ, và những người dân nghèo khu phố Tây đã đứng chật kín con phố, ánh mắt họ nhìn vào toán binh lính đầy vẻ phẫn nộ.

"Kinh thành đang trong thời kỳ chú trọng an dân trị quốc." Ta nhìn thẳng vào mắt ông ta.

"Đại nhân nhận tiền hối lộ của đối thủ mà vô cớ đóng cửa một tiệm hàng, kích động biến động dân sinh ngay trước thềm năm mới. Bản kiến nghị có chữ ký của năm mươi hội trong khu phố Tây sẽ được gửi thẳng đến phủ Doãn. Đại nhân nghĩ xem, phủ Doãn sẽ chọn bảo vệ lợi ích của ông, hay chọn bảo vệ sự bình yên của cả khu phố Tây để báo cáo lên Thiên tử?"

"Lục... Lục cô nương, hiểu lầm! Đều là hiểu lầm thôi!"

Vị quan run rẩy gom lại số giấy tờ, mặt cắt không còn một giọt máu, vội vã phất tay với thuộc hạ:

"Rút! Mau rút lui! Bản quan sẽ về tra rõ kẻ nào dám vu khống Lục Ký!"

Toán binh lính tháo chạy trối chết trong tiếng hò reo vang dội của bách tính khu phố Tây. Ta đứng ở ngưỡng cửa, phủi sạch lớp bụi bám trên vạt áo, khóe môi khẽ nhếch lên.

***

Một đêm cuối đông năm Cảnh Hoà thứ sáu, một trận tuyết lớn chưa từng có đổ xuống Kinh thành, biến toàn bộ những con đường gạch xám thành một dải lụa trắng xóa.

Trong gian phòng ấm áp của Lục Ký Phủ khang trang, ba mẹ con ta ngồi quây quần bên một chiếc bàn bằng gỗ lớn. Trên bàn là một nồi lẩu đồng nghi ngút khói, xung quanh bày biện những đĩa thịt, nấm tươi, rau xanh và những sợi mì kéo tay.

Mẹ ngồi ở vị trí chủ nhà. Chiếc khăn vải xám che mặt năm xưa đã hoàn toàn biến mất, lộ ra nửa khuôn mặt với những lằn sẹo đã mờ nhạt. Cánh tay trái của bà cử động vô cùng nhanh nhẹn, liên tục gắp những miếng thịt ngon nhất bỏ vào bát của ta và Tiểu Vũ, khóe mắt nheo lại ngập tràn niềm hạnh phúc.

Tiểu Vũ lúc này đã là một thiếu niên mười ba tuổi, vóc dáng cao ráo, gương mặt tuấn tú, toát lên vẻ thông tuệ. Đệ ấy khẽ đẩy cuốn sổ tổng kết tài sản cuối năm của chuỗi cửa hàng Lục Ký sang phía ta, dòng chữ số cuối cùng trên đó biểu thị số dư lên tới hàng ngàn lượng bạc. Đệ ấy nói rằng:

“Tỷ tỷ, năm sau chúng ta sẽ mở chi nhánh đến vùng Giang Nam.”

Ta mỉm cười, gật đầu đồng ý.

Ta đứng dậy, bước lại gần cửa sổ, mở toang cánh cửa nhìn ra bầu trời đêm Kinh thành.

Phía xa kia, trên bầu trời Tử Cấm Thành nguy nga tráng lệ, những bông hoa lửa khổng lồ liên tục bung nở, chiếu sáng cả một vùng giang sơn gấm vóc. Nam chính và nữ chính của cuốn sách ấy đang đứng trên lầu cao sạch sẽ, đón nhận sự sùng bái, ca tụng của vạn dân, tận hưởng vầng hào quang rực rỡ. Họ đã có thịnh thế vĩ đại của chính mình.

Ta nhìn vầng hào quang xa xôi ấy, rồi quay đầu lại nhìn làn khói ấm áp tỏa ra từ nồi lẩu đồng, nhìn khuôn mặt rạng rỡ của mẹ và nét chữ kiên định của đệ đệ dưới ánh đèn.

Ta mỉm cười, trong lòng chợt thanh thản.

Một kẻ qua đường làm nền vô danh như ta, rốt cuộc đã hoàn thành chương kết cho cuộc đời mình ngoài trang sách. Ta không chọn cách khom lưng cúi đầu nhận sự bố thí đầy cắn rứt của Hoàng tộc để làm nền cho sự nhân nghĩa của họ, cũng không chọn cách ôm hận thù điên cuồng để phải day dứt từng ngày. Ta dùng sự tỉnh táo, bản lĩnh và đôi bàn tay này để tự tay xoay chuyển càn khôn, tạo nên khoảng trời bình an, tự do cho những người ta yêu thương.

Thế giới ngoài kia là của các người, còn cuộc đời này, vĩnh viễn thuộc về chúng ta.

(Kết thúc)