Chương 3
C3
Chương 3:
Sau ba tháng giặt đồ thuê, ta tích góp được đúng ba trăm đồng. Số tiền này quá nhỏ bé đối với một thương nhân, nhưng đối với ta lúc đó, nó là toàn bộ sinh mạng, là viên gạch đầu tiên để ta leo ra khỏi hố đen của số phận.
Ta biết, nếu cứ tiếp tục giặt đồ thuê, đôi tay ta sẽ để lại di chứng khi mùa đông kết thúc, và ta sẽ mãi mãi chôn chân dưới gầm cầu thang này. Ta phải tìm hướng đi khác.
Lúc ấy ta dùng toàn bộ ba trăm đồng ra chợ đầu mối vào lúc chiều tà. Đó là thời điểm người ta dọn hàng để mua lại vài cân đường với giá rẻ và mấy thúng trái cây vừa chua vừa chát mà các chủ buôn vứt bỏ bên vệ đường.
Ban đêm, dưới ánh đèn dầu chập chờn dưới gầm cầu thang xưởng nhuộm, ta tỉ mẩn rửa sạch từng quả quất, ngâm nước muối rồi cẩn thận vắt bớt nước chua. Sau đó mượn chiếc nồi đất của bà lão bán nước chè bên đường, bắc lên bếp than hồng, kiên nhẫn sên quất với đường suốt nhiều canh giờ.
Bằng sự khéo léo và nhẫn nại, ta đã tạo ra món mứt quất dẻo thơm. Mứt của ta có màu vàng óng như mật, vị ngọt thanh hòa quyện với vị cay nhẹ của vỏ quất, vừa giúp nhóm người khuân vác ở bến và thủy thủ giữ ấm cổ họng trong những ngày lạnh giá.
Không dừng lại ở đó, ta hiểu rằng nếu chỉ bán mứt như bao người khác, ta sẽ không bao giờ cạnh tranh nổi. Những lúc rảnh rỗi vào ban đêm, ta thường tìm đến các xưởng may lớn trong thành phố, nhặt những miếng vải lụa thừa bị người ta bỏ đi.
Ta nương theo ánh đèn dầu leo lét, bắt đầu tỉ mẩn cầm lên chiếc kim thêu nhỏ. Bắt đầu thêu những họa tiết hoa sen, hoa mẫu đơn hay những chú chim én mềm mại lên từng miếng vải vụn, biến nó thành những chiếc túi thơm nhỏ nhắn, hoặc cũng có thể dùng để đựng mứt.
Sáng hôm sau, ta gánh hai thúng mứt ra bến tàu. Thực tế gian nan hơn ta tưởng gấp ngàn lần. Sự trỗi dậy của một kẻ trắng tay luôn chọc tức những kẻ đã cắm rễ lâu năm ở bến tàu. Đám người bán hàng lâu năm ghen ghét vì mứt của ta thơm ngon, túi đựng lại đẹp mắt khiến khách mua đông hơn. Họ xúi giục đám lưu manh bến cảng đến đập phá gánh hàng của ta, hất văng những hũ mứt dẻo xuống bùn lầy. Mấy gã quan lại tuần bến cũng liên tục hạch sách, ám chỉ thu tiền một cách vô lý.
Có những ngày, gánh mứt của ta bị đập vỡ tan tành, dính đầy bùn đất, toàn bộ vốn liếng tích góp đều tan thành mây khói. Ta đứng nhìn gánh hàng vỡ vụn ngay trước mắt, hai tay cũng run rẩy vì uất hận. Nhưng A Trúc của hiện tại đã không còn là người phụ nữ yếu đuối quỳ lạy khóc lóc trước cổng nhà họ Vương hay nhẫn nhịn chịu đựng sự ghê tởm của Lý Cẩn nữa.
Mỗi lần bị đập phá, ta đều im lặng quỳ xuống bùn lội, nhặt từng quả quất còn sạch bỏ vào trong thúng. Đêm về, ta lại cặm cụi nhóm lửa, tìm kiếm nhiều công việc khác để có tiền làm lại từ đầu. Ta muốn dùng sự tử tế, chất lượng của sản phẩm và chữ Tín để chinh phục khách hàng.
Ta bán mứt đúng giá, không cân thiếu, túi thơm thêu tay tinh xảo luôn được tặng kèm. Dần dần, đám phu khuân vác, các thương nhân đi tàu ngược xuôi đều quen mặt và chỉ tìm đến gánh mứt có túi thơm của Hạ Trúc. Tiếng lành đồn xa, gánh mứt nhỏ của ta bắt đầu có những đơn đặt hàng lớn hơn từ các tàu buôn đường dài.
……….
Hai năm sau, gánh mứt dạo của ta đã phát triển thành một sạp hàng cố định bên bến cảng. Ta không chỉ bán mứt quất mà bắt đầu bán thêm các loại mứt hoa quả khác và nhận thêu gia công các loại túi gấm, khăn tay cho người lao động và cả những phu nhân trong các gia đình giàu có.
Tuy nhiên, bến cảng Nam Hải không phải là nơi yên bình. Giới buôn gấm vóc và nông sản nơi đây bị chi phối bởi Hội buôn Nghĩa Bang - một tập hợp những thương nhân lâu năm, hung hãn và cực kỳ độc quyền.
Khi thấy sạp hàng của ta bắt đầu lấn sân sang việc cung cấp khăn gấm thêu tay cho các tàu buôn xuất khẩu, bang chủ Nghĩa Bang là Triệu Bá nổi tiếng tàn nhẫn bắt đầu để mắt tới ta.
Hắn không ra mặt trực tiếp mà dùng chiêu trò bẩn thỉu. Hắn thâu tóm toàn bộ nguồn chỉ thêu và vải gấm ở các xưởng buôn trong thành phố, lệnh cho họ tuyệt đối không được bán cho ta dù chỉ một thước vải. Cùng lúc đó, hắn cho người rêu rao tin đồn rằng mứt của ta dùng loại đường kém chất lượng, túi gấm thêu bằng loại chỉ gây ngứa ngáy cho người dùng.
Chỉ trong vòng một tháng, các đơn đặt hàng của ta liên tục bị hủy. Sạp hàng cũng đứng trước nguy cơ khánh kiệt, số tiền tích góp suốt hai năm qua có nguy cơ tan thành mây khói.
Đêm đó, ta ngồi trước sạp hàng vắng ngắt, nhìn những thước vải chỉ thêu cuối cùng còn sót lại. Nhóm thợ phụ là những người phụ nữ nghèo khổ được ta thuê về làm cùng đã bật khóc nức nở vì lo sợ lại phải quay trở về cảnh đời nghèo khó, sống trong nhục nhã như trước.
Ta nắm chặt tay, ánh mắt lóe lên sự sắc lạnh. Ngay đêm đó, ta khoác áo bông thô, một mình đón chuyến thuyền đêm đi ngược dòng lên phía Bắc, tìm đến vùng núi có những làng nghề dệt thổ cẩm và nhuộm vải bằng vỏ cây tự nhiên của người dân tộc thiểu số.
Tại đây, ta dùng sự chân thành và kỹ thuật thêu hoa tinh xảo của mình để thuyết phục bọn họ. Ta ký hợp đồng với toàn bộ sản phẩm vải dệt tay thô nhưng độc đáo của họ với giá cao hơn thị trường, đồng thời học thêm kỹ thuật nhuộm màu tự nhiên không giống với bất kỳ tiệm vải nào ở Nam Hải.
Một tháng sau, ta trở về Nam Hải. Khi Triệu Bá còn đang đắc thắng tưởng rằng ta đã cúi đầu chịu chết, thì trên bến cảng bất ngờ xuất hiện loại gấm thổ cẩm nhuộm tự nhiên độc nhất vô nhị do sạp hàng Hạ Trúc phân phối. Loại gấm này có hoa văn lạ mắt, màu sắc tự nhiên không phai, hương thơm thảo mộc dễ chịu, lập tức tạo nên một cơn sốt khủng khiếp trong giới thương nhân nước ngoài và các phu nhân quyền quý.
Triệu Bá nghiến răng nghiến lợi, giận dữ đập vỡ tách trà đang uống dở. Hắn không những không chèn ép được ta, mà còn vô tình đẩy ta bước lên một tầm cao mới, trở thành nhà cung cấp gấm độc quyền dòng sản phẩm cao cấp.
……….
Năm thứ tư ở Nam Hải. Bằng số tiền lời khổng lồ từ dòng gấm độc quyền và sự tích góp không ngừng nghỉ, ta quyết định thực hiện bước nhảy vọt lớn nhất cuộc đời mình. Ta thuê lại một cửa hàng hai lầu rộng lớn, đắc địa nhất ngay ngã tư bến cảng Nam Hải.
Ngày khai trương, tấm biển hiệu bốn chữ bằng gỗ mạ vàng được treo lên vô cùng long trọng: Tiệm Gấm Thanh Y. Với mong muốn chữa lành những tổn thương, gột rửa những đớn đau cùng tủi nhục trong quá khứ.
Tiệm gấm của ta không giống bất kỳ tiệm gấm nào khác ở thành phố cảng sầm uất này. Ngay từ ngày đầu mở cửa, ta đã đưa ra một quy định kỳ lạ làm chấn động toàn bộ giới thương nhân, đó là chỉ tuyển dụng phụ nữ sa cơ. Những người phụ nữ bị bỏ rơi, những cô nương bị gia đình bán vào thanh lâu trốn ra ngoài cố gắng tìm đường sống, những góa phụ nghèo khổ bị dòng họ xua đuổi, hay những người mẹ đơn thân bị xã hội ruồng bỏ... tất cả khi nghe tin đều tìm đến tiệm gấm Thanh Y.
Ta dang rộng vòng tay đón nhận họ, dựng cho họ một khu nhà ở sạch sẽ, ấm áp ở phía sau tiệm, bao ăn một ngày ba bữa cơm nóng, chữa trị bệnh tật cho họ. Và quan trọng nhất là ta đích thân mở lớp truyền dạy cho họ toàn bộ kỹ nghệ thêu hoa trên gấm, bí quyết nhuộm màu và kỹ năng buôn bán.
Nhiều đêm, nhìn những người phụ nữ ấy co ro nghẹn ngào vì nhớ con, vì tủi nhục bị chà đạp trong quá khứ, ta chỉ có thể nắm lấy đôi bàn tay run rẩy, chằng chịt vết sẹo của họ, nhẹ nhàng lên tiếng:
“Đừng khóc. Nước mắt của phụ nữ chúng ta không đổi lại được sự thương cảm của đàn ông hay sự công bằng của xã hội.”
“Muốn bọn họ không coi chúng ta là món đồ có thể cầm cố, mặc sức hắt hủi hay bán tống bán tháo, vậy thì trước hết phải tự biết yêu lấy chính mình, mà đôi tay này cũng phải tự làm ra tiền. Tự do, sự tôn nghiêm và tương lai của chúng ta phải do chính chúng ta nắm giữ trong tay mới được.”
“Sinh ra cùng là con người. Vì sao chúng ta không yêu lấy bản thân mình nhiều hơn?”
Dưới sự dẫn dắt của ta và sự thấu hiểu lẫn nhau của mọi người, tiệm gấm Thanh Y không chỉ là một cửa hàng buôn bán, mà đã trở thành một thế giới thu nhỏ của những người phụ nữ kiên cường.
Những mảnh gấm thêu tay tinh xảo mang hoa văn sống động cùng những hộp mứt gấm sang trọng của tiệm trở thành mặt hàng thượng hạng được các phu nhân quyền quý trong Kinh thành và các thuyền thương nhân từ phương Tây săn đón với giá cực kỳ đắt đỏ.
Từ một người vợ bị cầm cố rách rưới tủi nhục, đơn độc rời khỏi làng trong trận cuồng phong năm xưa, giờ đây ta đã trở thành Hạ chưởng quỹ, một nữ thương nhân nức tiếng vùng bến cảng Nam Hải.
Người ta kính trọng ta không chỉ vì sự giàu có, mà vì bản lĩnh sắc bén trên thương trường, sự tỉnh táo trước mọi cạm bẫy và tấm lòng bao dung đối với những kiếp người bất hạnh.
Thế nhưng, khi vừa mới chạm tới đỉnh cao sự nghiệp thì những bóng đen từ quá khứ và những âm mưu mới ở Nam Hải lại bắt đầu rục rịch kéo đến.
...
Năm thứ năm tại Nam Hải, danh tiếng của tiệm gấm Thanh Y không chỉ dừng lại ở bến cảng. Vải gấm thêu tay của ta đã theo những thuyền buôn vượt biển. Sự bành trướng của Hạ chưởng quầy ta như một cái gai găm sâu vào mắt Triệu Bá bang chủ Nghĩa Bang vốn quen thói xưng hùng xưng bá. Hắn thua đau một lần nhưng quyết không buông tha. Triệu Bá thừa biết nếu dùng thủ đoạn thương trường đường đường chính chính, hắn sẽ không bao giờ cản nổi tiệm gấm Thanh Y. Hắn chuyển sang nước cờ hiểm độc khác, tìm kiếm góc khuất quá khứ để huỷ hoại danh dự của ta.
Hắn cử đám tay chân thân tín lặn lội về tận vùng quê nghèo năm xưa để điều tra lai lịch của vị Hạ chưởng quầy. Và quả nhiên, gã đã mò ra được bí mật mà ta tưởng chừng đã chôn sâu dưới lòng sông lạnh.
Hạ chưởng quầy nổi danh lẫy lừng của Nam Hải thực chất chỉ là một ả gái quê từng bị chồng cầm cố làm "máy đẻ" cho gia đình giàu có, một kẻ bị dòng họ Lý xua đuổi, bị coi là thứ phụ nữ không sạch sẽ.
Triệu Bá đắc thắng. Hắn không chỉ nắm được yếu điểm này, mà còn đánh hơi thấy mùi tiền từ gã chồng cũ Lý Cẩn của ta.
Lúc này ở quê cũ, Lý Cẩn đã thân bại danh liệt. Sau khi bị ta vạch mặt ở từ đường, hắn cố sống cố chết muốn làm ăn buôn bán nhưng bị lừa sạch vốn liếng. Căn nhà ngói ba gian là biểu tượng rõ ràng nhất cho sự tráo trở của hắn cũng bị người ta dùng để xiết nợ. Hắn trở thành kẻ thiếu nợ đây đó, bị chủ nợ đánh gãy một bên chân, phải sống chui rúc trong một căn chòi ven sông.
Khi tay chân của Triệu Bá tìm đến và rỉ tai rằng: Người vợ bị ngươi cầm cố năm xưa giờ là Hạ phu nhân giàu có nhất vùng Nam Hải rồi kìa, tiền bạc chất cao như núi. Lúc ấy mắt Lý Cẩn sáng quắc lên như mắt của một con sói đói nhìn thấy miếng mồi ngon.
Sự tham lam, đê tiện và tính tự cao tự đại của gã văn sĩ lập tức trỗi dậy. Hắn nghĩ rất đơn giản. Dù sao nàng cũng là vợ của hắn. Tiền của nàng làm ra đương nhiên phải là của hắn rồi. Có gì mà phải bàn cãi.
Được Triệu Bá bỏ tiền ra bao bao ăn ở, mặc cho bộ áo mới để che đi dáng vẻ nhếch nhác, Lý Cẩn được đưa thẳng tới cảng Nam Hải.
Một cạm bẫy bẩn thỉu và tàn nhẫn được Triệu Bá giăng ra như thế. Hắn bỏ tiền thuê hàng chục gã bồi bút, thầy đồ tha hóa trong thành phố và đám lưu manh bến sông để chuẩn bị cho một màn vạch mặt Hạ chưởng quầy trước toàn thể giới thương gia.
Mùa thu năm đó, Hội nghị Thương gia Nam Hải được tổ chức vô cùng hoành tráng tại Tửu lâu Giang Nam quy tụ toàn bộ quan lại, thương nhân giàu có và phu nhân quyền quý trong vùng. Ta với tư cách là chủ tiệm gấm Thanh Y được mời ngồi ở hàng ghế danh dự phía trên.
Ta mặc chiếc váy màu lam sẫm thêu hoa sen bạc, tóc búi cao điểm trâm ngọc, thần thái điềm tĩnh, uy nghiêm. Khi tiệc mừng đang ở lúc vui vẻ nhất, Triệu Bá bất ngờ đứng dậy, đập mạnh chén rượu xuống bàn:
"Chờ đã! Hôm nay nhân lúc đông đủ quan khách và giới thương nhân, ta có một chuyện bất bình muốn công khai!”
“Thương trường Nam Hải chúng ta vốn đề cao chữ 'Tín' và 'Đức'. Vậy mà có kẻ tráo trở, mang thân xác dơ bẩn, bất kính với dòng họ, bất nghĩa với trượng phu lại đang ngồi ở đây giả làm bậc trinh phụ hiền thảo!"
Toàn bộ người trong sảnh tiệc đều chết lặng. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía Triệu Bá rồi lại quay sang nhìn ta. Ta vẫn thản nhiên nhấp một ngụm trà, ánh mắt không hề dao động.
Triệu Bá vỗ tay ba tiếng. Lý Cẩn bước ra từ phía sau bức màn che. Dù khoác trên mình tấm áo mới, nhưng dáng đi khập khiễng vì gãy chân, gương mặt gầy guộc u ám, ánh mắt lén lút gian manh của hắn không sao che giấu nổi.
Lý Cẩn nhìn thấy ta ngồi trên ghế cao, gấm vóc lụa là, quanh người tỏa ra khí chất cao quý thì ngơ ngác mất vài giây. Nhưng rồi sự tham lam lập tức chiếm lấy tâm trí hắn. Hắn lao về phía bàn của ta, gào khóc thảm thiết:
"Trúc Nhi! Trúc Nhi! Mấy năm nay ta tìm nàng khổ sở biết bao! Nàng là vợ của ta. Năm xưa nhà ta gặp hạn hán, nàng bỏ trốn theo người khác, bỏ mặc ta một mình gánh vác nợ nần. Bây giờ nàng giàu có rồi, lại xưng họ Hạ, là muốn chối bỏ trượng phu nghèo khó này sao?!"
Tiếng ồn ào bùng lên như ong vỡ tổ. Các quan khách bắt đầu xầm xì:
"Trời ơi, Hạ chưởng quầy danh tiếng lẫy lừng lại là kẻ bỏ trượng phu bỏ quê nhà đi theo người khác thật sao?"
"Thật bất hạnh cho người này, vợ giàu sang rồi lại ngoảnh mặt làm ngơ!"
Triệu Bá đắc thắng bước lên, giơ ra một tờ giấy cũ đã ố vàng:
"Chư vị, đây chính là hôn thư của hai người họ! Tôn xưng Hạ chưởng quầy đây thực chất là Hạ Trúc. Một kẻ bất trung bất kính với phu quân, giấu bặt lai lịch để lừa dối giới thương nhân Nam Hải! Một kẻ như vậy có xứng đáng làm chủ tiệm gấm Thanh Y không đây? Có xứng đáng giao thương với các vị hay không?"
Những tiếng xì xào càng lúc càng lớn. Đám bồi bút được Triệu Bá thuê bắt đầu lớn tiếng nhạo báng, hùa theo ép ta phải rời khỏi hội nghị, đòi tẩy chay tiệm gấm Thanh Y.
Lý Cẩn thấy đám đông ủng hộ mình thì càng thêm đắc chí. Hắn quỳ sụp xuống, giả vờ lau nước mắt nhưng khóe miệng ranh ma lại nhếch lên:
"A Trúc, chỉ cần nàng biết hối lỗi, giao lại toàn bộ tiệm gấm Thanh Y cho ta quản lý, theo ta về quê thắp hương sám hối với dòng họ, ta sẽ bao dung tha thứ cho những lỗi lầm của nàng..."
Trong suốt màn kịch đó, ta không hề ngắt lời, cũng không hề hoảng loạn. Ta bình thản đặt tách trà xuống đĩa sứ, tiếng "keng" trong trẻo vang lên giữa sảnh tiệc đang ồn ào.
Ta đứng dậy. Vạt áo gấm lướt nhẹ trên sàn gỗ. Thần thái của ta không phải là của một nạn nhân bị bắt bạt, mà là của một vị nữ vương đang nhìn đám hề nhảy múa. Ta nhìn Lý Cẩn, khóe môi nở nụ cười lạnh đến thấu xương:
"Lý Cẩn, ngươi nói ta bỏ trốn theo người đàn ông khác đúng không? Ngươi nói ta bất nghĩa với ngươi à?"
Ta quay sang phía quan khách và quan lại Nam Hải, cất giọng đanh thép, vang dội khắp tửu lâu:
"Nếu ta thực sự là kẻ bất nghĩa, sao ngươi không kể cho toàn bộ quan khách ở đây nghe một chút chuyện xưa. Rằng toàn bộ tiền dựng căn nhà ngói ba gian của ngươi ở quê, tiền cho ngươi ăn mặc gấm vóc học hành suốt ba năm... là từ đâu mà có?!"
Lý Cẩn khựng lại, mặt hắn bỗng chốc tái nhợt: "Nàng... nàng nói lung tung gì đó?!"
"Ta nói lung tung sao?"
Ta rút từ trong ngực áo ra một chiếc bao gấm đã được niêm phong cẩn thận. Ta không chỉ mang theo một bản khế ước, mà là toàn bộ bằng chứng mà ta đã cho người âm thầm thu thập suốt hai năm qua. Ta giơ cao một tờ giấy có dấu ấn đỏ chót:
"Các vị quan khách. Đây là tờ khế ước cầm cố thê tử do chính tay Lý Cẩn ký kết cách đây tám năm. Hắn đã cầm cố ta cho nhà họ Vương làm người đẻ thuê trong ba năm, để đổi lấy lương thực và tiền bạc chảy thẳng vào túi của hắn. Hắn lấy thân xác, máu và nước mắt của thê tử mình để xây dựng căn nhà khang trang, diễn một vở mang tên người chồng nghĩa khí, bao dung."
Từng tiếng "Ồ" lần lượt vang lên trong sảnh chính. Toàn bộ quan khách ai nấy đều bàng hoàng. Chưa dừng lại ở đó, ta tiếp tục rút ra tờ giấy thứ hai là bản sao sổ sách nợ nần và giấy bán nhà của Lý Cẩn:
"Sau khi vụ việc cầm cố thê tử bị vạch trần ở quê nhà, hắn bị tộc trưởng gạch tên khỏi gia phả, bị chủ nợ xiết nhà vì thua cờ bạc. Hôm nay hắn mò đến Nam Hải không phải vì tình nghĩa, mà vì lòng tham không đáy, muốn cướp đoạt công sức lao động của hàng trăm người phụ nữ ở tiệm gấm Thanh Y chúng ta!"
Ta bước từng bước tiến lại gần Lý Cẩn. Mỗi bước chân của ta tựa như một quả tạ đè nặng lên ngực hắn. Lý Cẩn run rẩy, co cụm lại dưới sàn đá, không dám ngước mắt nhìn thẳng vào ta. Ta quay sang Triệu Bá, ánh mắt sắc như lưỡi dao:
"Còn ông, Triệu Bá! Ông câu kết với một kẻ bán vợ nuôi thân, một gã cờ bạc cặn bã bất tín bất nghĩa để dàn dựng màn kịch này nhằm phá hoại danh tiếng của gấm Thanh Y sao? Ông nói về chữ 'Tín' và chữ 'Đức' sao? Ông cũng biết gã Lý Cẩn này vừa đặt chân đến Nam Hải đêm qua đã ký với ông khê ước gì mà, đúng không?"
Ta ném thẳng một tờ giấy khác xuống trước mặt Triệu Bá. Đó chính là tờ giấy cam kết mà Lý Cẩn đã bí mật ký với Triệu Bá đêm qua. Trên đó viết rằng nếu chiếm được tiệm gấm Thanh Y, Lý Cẩn sẽ bán lại toàn bộ xưởng gấm cho Nghĩa Bang với giá rẻ.
Sự thật vỡ lở. Toàn bộ quan khách và các thương nhân lớn đều vô cùng tức giận. Bọ họ nhận ra Triệu Bá không chỉ đê tiện mà còn coi thường trí tuệ của giới thương gia Nam Hải. Các vị quan lại có mặt tại buổi tiệc đập bàn đứng dậy, lệnh cho lính tuần bến lập tức bắt giữ Lý Cẩn vì tội vu khống, lừa đảo và phá hoại trật tự thương trường.
Mặt Triệu Bá xám như tro tàn, không thốt nổi một lời. Danh tiếng của Nghĩa Bang hoàn toàn sụp đổ chỉ trong một đêm.
Đêm đó, Lý Cẩn bị tống vào ngục Nam Hải vì tội lừa đảo và thiếu nợ không có khả năng chi trả. Triệu Bá vì muốn phủi sạch trách nhiệm và cứu vãn chút danh dự còn lại của Nghĩa Bang, đã lập tức rút toàn bộ tiền bảo lãnh, thậm chí còn bí mật cho tay chân vào ngục dạy cho Lý Cẩn một bài học vì đã làm hắn mất mặt.
Một tháng sau, Lý Cẩn được thả ra khỏi ngục. Nhưng lúc này, hắn chỉ còn là một kẻ tàn phế. Một bên tay bị đánh gãy, chân kia khập khiễng, mặt mũi biến dạng vì những trận đòn độc ác. Hắn không có một đồng dính túi, không có người thân, cũng chẳng còn nơi để về.
Mùa đông Nam Hải lại đến. Những cơn gió biển rét mướt lại gào rít qua từng khe đá bên bến sông. Lý Cẩn co quắp trong bộ quần áo rách rưới bẩn thỉu, chui rúc dưới đúng gầm cầu thang gỗ của xưởng nhuộm cũ mà ta đã từng tá túc năm xưa.
Số phận đã tạo nên một vòng quay nghiệt ngã và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Hắn phải sống đúng cuộc đời tăm tối, dơ bẩn mà hắn từng thẳng tay đẩy người vợ của mình vào.
Chiều hôm đó, tuyết đầu mùa bắt đầu rơi nhẹ. Ta khoác trên mình chiếc áo choàng lông thú màu trắng tinh khôi, bước xuống chiếc xe ngựa sang trọng dừng lại bên bến sông, chậm rãi bước đến trước gầm cầu thang.
Lý Cẩn đang run cầm cập trong góc tối, tay cầm chiếc bát sứt mẻ xin cơm thừa canh cặn. Khi nhìn thấy đôi giày thêu hoa sen bạc sang trọng dừng lại trước mặt, hắn chậm rãu ngước mắt lên nhìn.
Nhìn thấy ta, mắt Lý Cẩn dại ra. Hắn không còn gào khóc, không còn giở trò tráo trở. Sự trừng phạt tàn nhẫn nhất không phải là cái chết, mà là việc hắn phải sống trong vũng bùn và ngước nhìn người phụ nữ mình từng chà đạp đang đứng ở đỉnh cao danh vọng.
Hắn run rẩy chìa chiếc bát sứt mẻ về phía ta, giọng thều thào như tiếng mèo kêu:
"A Trúc... Ta chết mất thôi... Ta đói quá... Cho ta cái gì ăn đi..."
Ta nhìn hắn. Chẳng phải câu nói này rất quen sao? Trong mắt ta lúc này không hề có hận thù, cũng chẳng có chút động lòng thương hại.
Ta rút ra tờ khế ước cầm cố vợ năm xưa từ trong chiếc bao gấm. Trước mặt Lý Cẩn, ta châm lửa vào góc tờ giấy. Ngọn lửa vàng cam cứ thế bùng lên trước gió biển. Tờ giấy ghi lại sự nhục nhã, cay đắng của cuộc đời ta cháy thành tro tàn, bay lơ lửng rồi rơi xuống dòng nước sông đông lạnh giá.
Ta vứt chiếc bao gấm rỗng xuống đất ngay trước mặt hắn, cất giọng nhẹ tênh:
"Lý Cẩn, nợ nần giữa ta và ngươi, đến hôm nay xem như đã tận.”
Ta quay lưng bước lên xe ngựa. Tiếng bánh xe nghiến trên nền đá vang lên đều đặn, bỏ lại sau lưng tiếng gào khóc tuyệt vọng của Lý Cẩn hòa lẫn trong tiếng sóng biển gầm gừ.
Màn kịch báo ứng đã hạ màn. Nhưng con đường phía trước của Hạ chưởng quầy đã tự mình bước ra từ vũng bùn mới chỉ thực sự bắt đầu…